Lịch sử hình thành và phát triển

Cập nhật : 25/12/2015
Lượt xem: 128
- Ngày 09/7/1994 Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chính có Quyết định số 413/QĐ/TCCB thành lập Viện Khoa học và Công nghệ Địa chính trên cơ sở Liên hiệp Khoa học sản xuất Trắc địa và Bản đồ được thành lập tại Quyết định số 143/CT ngày 26/4/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng;
- Ngày 11/9/1997 Tổng Cục trưởng Tổng cục Địa chính ra Quyết định số 520/QĐ/TCCB về việc đổi tên Viện Khoa học và Công nghệ Địa chính thành Viện nghiên cứu Địa chính căn cứ theo Quyết định số 782/Q Đ-TTg ngày 24/10/1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp các cơ quan nghiên cứu - triển khai khoa học và công nghệ. Chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Viện Nghiên cứu Địa chính được quy định bởi Quyết định số 45/1999/QĐ-ĐC ngày 10/02/1999 của Tổng Cục trưởng Tổng cục Địa chính và các Quyết định số 11/2004/QĐ-BTNMT ngày 16/06/2004 và Quyết định số 11/2004/QĐ-BTNMT ngày 16/06/2004 và Quyết định số 942/QĐ-BTNMT ngày 17/07/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.
- Viện Nghiên cứu Địa chính được đổi tên thành Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ theo Quyết định số 1238/QĐ-TTg ngày 18/9/2006 của Thủ tướng Chính Phủ. Căn cứ theo Nghị định số 115/2005/NĐ–CP ngày 05/09/2005 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ công lập và Quyết định số 08/2007/QĐ–BKHCN ngày 06/04/2007 của Bộ Khoa học và Công nghệ về việc ban hành “Quy định về tiêu chí xác định tổ chức khoa học và công nghệ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu chiến lược, chính sách phục vụ quản lý nhà nước”, Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ được sắp xếp là Viện nghiên cứu cơ bản trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường theo Quyết định số 1140/QĐ-BTNMT ngày 30/07/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường. 
- Căn cứ Nghị định số 25/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 767/QĐ-TTg ngày 23/06/2008 về các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, theo đó Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ là đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ được quy định trong Quyết định số 2476/QĐ-BTNMT ngày 26/11/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.
- Căn cứ Nghị định số 21/2013/NĐ-CP ngày 04/03/3013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 74/QĐ-TTg ngày 13/01/2014 về các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, theo đó Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ là đơn vị trực thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ hiện nay được quy định theo Quyết định số 933/QĐ-BTNMT ngày 23/05/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Trong quá trình hình thành và phát triển, Viện đã có nhiều đóng góp vào sự phát triển của ngành Đo đạc – Bản đồ và Quản lý đất đai. Một số thành tích nổi bật trong hoạt động khoa học và công nghệ của Viện: 

1. Một số thành tựu nghiên cứu khoa học
- Nghiên cứu các vấn đề và đề xuất các phương án di dân giải phóng lòng hồ - tái định cư phục vụ trong công tác di dân tái định cư ở thủy điện Sơn La (2002);
- Thực hiện đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu xây dựng CSDL đất đai cấp tỉnh” năm 2005 và xây dựng phần mềm VILIS phục vụ thành lập bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính cung cấp cho các Sở Tài nguyên và Môi trường;
- Nghiên cứu và đề xuất phương pháp xây dựng hệ tọa độ động quốc gia (hệ tọa độ không gian quốc gia) dựa trên công nghệ GNSS và Hệ tọa độ Quy chiếu Quả đất Quốc tế (ITRF) (2004);
- Nghiên cứu các phương pháp xử lý các dữ liệu đo GPS và xác định các vectơ chuyển dịch của vỏ Trái đất (chuyển dịch không gian, chuyển dịch ngang và chuyển dịch đứng) nhờ phương pháp bình sai mạng lưới GNSS địa động lực tự do trong ITRF. Nghiên cứu chuyển dịch đới đứt gẫy Lai Châu - Điện Biên (giai đoạn 2002 - 2004) và đới đứt gẫy sông Mã bằng công nghệ GPS (giai đoạn 2006-2008);
- Nghiên cứu phương pháp, nội dung quy hoạch sử dụng đất trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Xây dựng phương pháp và thuật toán quy hoạch sử dụng đất tự động. Lập phần mềm quy hoạch sử dụng đất LB (Land Balance) (2008); 
- Nghiên cứu phương pháp xác định mật độ điện tử ở tầng điện ly và tổng lượng hơi nước ở tầng đối lưu nhờ xử lý dữ liệu đo GPS độ chính xác cao phục vụ công tác dự báo khí tượng (giai đoạn 2006 - 2008);
- Thực hiện đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng hạ tầng kỹ thuật thông tin địa lý phục vụ hợp tác giải quyết một số vấn đề cơ bản về Khoa học Trái đất trên lãnh thổ Việt Nam, khu vực và toàn cầu” (2010);
- Nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng và xác định phương hướng đầu tư phát triển công nghệ trong lĩnh vực Đo đạc và Bản đồ ở nước ta (2010);
- Nghiên cứu phương pháp và thuật toán xử lý các dữ liệu đo GNSS độ chính xác cao trên khoảng cách lớn trong ITRF. Lập phần mềm GUST (Gps Using Sequence Technology) xử lý các dữ liệu đo GNSS trên khoảng cách lớn (giai đoạn 2006 - 2010);
- Nghiên cứu đề xuất phương pháp xác định sự thay đổi của mặt biển trung bình nhờ đo trọng lực tuyệt đối trên các đảo (2010);
- Nghiên cứu phương pháp đánh giá độ chính xác đo đạc các thửa đất dựa trên các giá trị đất (2011);
- Nghiên cứu phát triển phần mềm tổng quát hoá tự động bản đồ địa hình tỷ lệ 1/25.000 từ bản đồ địa hình tỷ lệ 1/10.000 (2011);
- Nghiên cứu ứng dụng công nghệ thành lập bản đồ (địa hình và địa chính) từ ảnh chụp bằng máy chụp ảnh phổ thông lắp trên máy bay không người lái M100-CT điều khiển bằng sóng Radio (2011);
- Nghiên cứu xây dựng hệ độ cao hiện đại dựa trên mặt Geoid cục bộ gắn liền với việc xây dựng Hệ tọa độ động lực quốc gia. Đề xuất phương pháp và xác định được thế trọng trường W0 của mặt Geoid cục bộ Hòn Dấu (2012);
- Năm 2012, Viện chủ trì và phối hợp với các đơn vị thuộc lĩnh vực đo đạc và bản đồ hoàn thành việc xây dựng Chiến lược Khoa học và Công nghệ của lĩnh vực Đo đạc và bản đồ đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020;
- Xuất bản 06 quyển sách khoa học và kỹ thuật phục vụ nghiên cứu khoa học và đào tạo tiến sĩ (2013-2014)…

2. Một số thành tựu nghiên cứu ứng dụng công nghệ hiện đại vào thực tiễn
- Chủ trì xây dựng mạng lưới GPS cấp “0” bao phủ toàn quốc năm 1995;
- Đo nối thủy chuẩn hạng II qua lãnh thổ CHDCND Lào giai đoạn 1999 - 2000. Xây dựng lưới thuỷ chuẩn hạng I, II và mạng lưới GPS tại CHDCND Lào;
- Bay chụp ảnh khu vực Hà Nam Ninh - Thái Bình bằng hệ thống RM-KATOP có dẫn đường bằng công nghệ GPS trong những năm 1998-1999, đây là công việc mở đầu cho việc bay chụp thành lập bản đồ bằng công nghệ ảnh số trong Tổng cục Địa chính (trước đây) và Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày nay; Đề xuất Quy trình thành lập bản đồ địa chính bằng công nghệ ảnh số ở khu vực miền núi;
- Lần đầu tiên xây dựng được cơ sở dữ liệu và tổng hợp phân tích số liệu về đất chưa sử dụng cả nước theo Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 27/01/2000 của Thủ tướng Chính phủ về dự án “Điều tra, kiểm kê đất chưa sử dụng cả nước”;
- Nghiên cứu đề xuất cấu trúc và xây dựng CSDL Hồ sơ địa chính cấp tỉnh, hệ thống thông tin trắc địa cấp tỉnh (với hệ thống phần mềm LOGEOSYS (LOcal GEOdetic SYStem) trong khuôn khổ Chương trình NCKH cấp Tổng cục địa chính giai đoạn 2000 - 2002 “Nghiên cứu các giải pháp hỗ trợ công tác địa chính cấp tỉnh, thực nghiệm tại tỉnh Hà Nam”;
- Thực hiện dự án “Xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống trọng lực quốc gia” với việc xây dựng 11 điểm trọng lực cơ sở và 29 điểm trọng lực hạng I phủ trùm cả nước bằng phương pháp đo trọng lực tuyệt đối. Xây dựng được 02 đường đáy trọng lực Vĩnh Yên - Tam Đảo và Tp. Hồ Chí Minh - Vũng Tàu bằng nguồn lực cán bộ và trang thiết bị của Viện. Lần đầu tiên xây dựng được CSDL trọng lực vùng đồng bằng và trung du Việt Nam với các ô chuẩn 3’x3’ bao gồm 67.790 điểm trọng lực. Việc hoàn thành Dự án được Bộ tài nguyên và Môi trường xếp vào một trong 10 sự kiện nổi bật của Bộ trong năm 2012 và được Tạp chí Thương mại và Đầu tư tặng cúp vàng và xếp vào TOP100 “Sản phẩm chất lượng cao” năm 2012;
- Lần đầu tiên xây dựng thành công CSDL đất ngập nước vùng Đồng Tháp Mười phục vụ việc quản lý vùng đất ngập nước theo Công ước Ramsar (2012). Sản phẩm của Dự án được Hiệp hội Công nghiệp Môi trường Việt Nam tặng cúp vàng “Sản phẩm thân thiện với môi trường” năm 2013;
- Triển khai xây dựng mạng lưới trắc địa địa động lực miền Bắc giai đoạn 2012 - 2015 bao gồm 78 điểm GNSS phủ trùm 11 đứt gãy Lai Châu - Điện Biên, Sông Mã, Sơn La, Sông Đà, Mường La - Bắc Yên, Phong Thổ - Than Uyên, Sông Hồng, Sông Chảy, Sông Lô, Cao Bằng - Tiên Yên và Đông Triều - Hạ Long phục vụ dự báo tai biến thiên nhiên;
- Triển khai xây dựng mạng lưới trắc địa địa động lực thuộc miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ Việt Nam giai đoạn 2014 - 2018 bao gồm 78 điểm GNSS phủ trùm 13 đứt gãy;
- Triển khai xây dựng hệ thống các điểm trọng lực tuyệt đối bằng máy trọng lực tuyệt đối FG5-X trên 17 đảo dọc bờ biển Việt Nam giai đoạn 2014 - 2018 phục vụ việc giám sát sự thay đổi của mặt biển trung bình dưới tác động của hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu;
- Bay đo trọng lực thử nghiệm thành công tại khu vực Thanh Ba - Phú Thọ vào ngày 31/3/2014 bằng máy trọng lực hàng không TAGS AIR III Gravity Meter - mở đầu giai đoạn đo đạc trọng lực chi tiết bằng máy bay;
- Triển khai dự án đo trọng lực toàn bộ các khu vực rừng núi Việt Nam bằng máy trọng lực hàng không TAGS AIR III Gravity Meter giai đoạn 2015 - 2019;
- Triển khai dự án đo trọng lực toàn bộ khu vực biển Đông bằng máy trọng lực hàng không TAGS AIR III Gravity Meter giai đoạn 2015 - 2019;
- Triển khai xây dựng CSDL đất ngập nước vùng bán đảo Cà Mau giai đoạn 2015 - 2018 phục vụ việc quản lý các vùng đất ngập nước theo Công ước Ramsar…

Ngoài ra, Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ đã chủ trì xây dựng nhiều văn bản quy phạm, định mức kinh tế - kỹ thuật của ngành như: 
- Quy phạm thành lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/200; 1/500; 1/100; 1/2000; 1/5000 và 1/10 000 theo Quyết định số 08/2008/QĐ-BTNMT ngày 10/11/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường;
- Bộ định mức kinh tế - kỹ thuật đo đạc địa chính, đăng ký quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được ban hành theo Quyết định số 10/2008/QĐ-BTNMT ngày 9/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường;
- Quy phạm xây dựng lưới trọng lực quốc gia được ban hành theo Thông tư số 01/TT-BTNMT ngày 14/01/2009 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường;
- Định mức kinh tế - kỹ thuật Xây dựng lưới trọng lực quốc gia được ban hành theo Thông tư số 09/2010/TT-BTNMT ngày 01/7/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường;
- Quy định về đo trọng lực chi tiết đã được ban hành trong Thông tư số 08/2012/TT-BTNMT ngày 08/08/2012 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường;
- Định mức kinh tế kỹ thuật đo trọng lực chi tiết được ban hành theo Thông tư số 24/TT-BTNMT ngày 03/9/2013 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Với những đóng góp và thành tích đã đạt được Viện đã nhận được những phần thưởng của Đảng và Nhà nước trao tặng như: Huân chương Lao động hạng Nhì (2014); Huân chương Lao động hạng Ba của Chủ tịch nước (2009); Cờ thi đua của Chính phủ (2012); Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ (2005); Cờ thi đua của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012); Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường các năm 2003, 2006, 2007, 2008, 2009, 2010, 2012; và nhiều bằng khen khác của Nhà nước trao tặng cho tập thể và cá nhân…