Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ: Tóm tắt số 31 (tháng 3/2017)

Cập nhật : 29/05/2017
Lượt xem: 167
Các đặc trưng cơ bản của việc nghiên cứu chuyển dịch các mảng kiến tạo của vỏ Trái đất
PGS.TSKH. Hà Minh Hòa
Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ
     Tóm tắt:

     Bài báo khoa học này phân tích các cơ sở khoa học và thực tiễn của việc nghiên cứu chuyển dịch của các mảng kiến tạo. Các kết quả nghiên cứu trong bài báo này sẽ cho phép phân biệt sự khác nhau giữa nghiên cứu chuyển dịch mảng kiến tạo và nghiên cứu hoạt động của các đới đứt gãy nhằm định hướng cho nghiên cứu địa động lực ở Việt Nam. 

Khảo sát sự biến động độ cao mặt biển trên phạm vi cục bộ ở Việt Nam
Hoàng Ngọc Quang 
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
     Tóm tắt:

     Từ những kết quả khảo sát và bằng phương pháp tính toán phân tích xu thế biến động mực nước biển nhiều năm, chúng tôi đã thấy rằng: tốc độ nước biển dâng tại các trạm Hải văn ở Việt Nam dao động 1,2 – 4,2 mm/năm tính theo số liệu mực nước trung bình nhiều năm. Các số liệu này cho thấy sự phù hợp chung với số liệu quan trắc của vệ tinh đo cao bề mặt biển của Dự án trắc đạc GEO2TECHDI-SONG của Thái Lan – EU.
Tuy mới chỉ là bước đầu khi dựa vào số liệu quan trắc mực nước với các chuỗi số liệu có độ dài khác nhau và chưa đủ dài nhưng hy vọng các kết quả tính toán đó có thể đóng góp phần nào vào kết luận chung về tốc độ nước biển dâng phía bờ Việt Nam là khá cao và đang có xu thế gia tăng ở giai đoạn 10 năm gần đây.

Phân tích hiện tượng đảo nhiệt đô thị: mối liên hệ giữa nhiệt độ bề mặt đất và bề mặt không thấm nước
TS. Phạm Minh Hải - Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ
Nguyễn Vĩnh Khang - Văn phòng Bộ Tài Nguyên và Môi Trường
     Tóm tắt:

     Sự gia tăng về phần trăm diện tích của các khu vực không thấm nước là kết quả của quá trình đô thị hóa nhanh chóng ở các thành phố lớn. Đã có một số nghiên cứu về tác động của quá trình đô thị hóa tới hệ sinh thái, đặc biệt khi chỉ số không thấm nước vượt quá ngưỡng để duy trì hệ sinh thái bền vững. Bài viết này nghiên cứu mối quan hệ giữa đảo nhiệt đô thị (Urban heat island-UHI) và  phần trăm diện tích bề mặt không thấm nước (% ISA – Impervious surface area) với khu vực thử nghiệm ở Thành phố Hà Nội, Việt Nam. Nhiệt độ bề mặt đất được tính toán từ băng nhiệt Landsat TM. Nghiên cứu đã đưa ra sơ đồ gồm các bước từ tiền xử lý, chuyển đổi bức xạ và tính nhiệt độ. Kết quả %ISA được đánh giá định tính bằng các so sánh trực quan cấu trúc/mẫu không gian  với cấu trúc/ mẫu sử dụng đất của khu vực thử nghiệm. Nhiệt độ bề mặt đất và bề mặt không thấm nước được lựa chọn để kiểm tra sự tương quan với dự đoán đảo nhiệt đô thị. Kết quả đã chỉ ra mối tương quan đáng kể giữa LST và %ISA, trong đó, sự thay đổi LST đã được giải thích dựa trên ISA, đặc biệt đối với khu vực có mật độ cao của Hà Nội.

Thành lập bản đồ không gian 3 chiều bằng máy bay không người lái
Vũ Phan Long, Vũ Văn Chất 
Cục Bản đồ-Bộ Tổng Tham mưu;
Nguyễn Vũ Giang
Viện Công nghệ Vũ trụ -Viện Hàn Lâm KH&CN Việt Nam
     Tóm tắt:

     Từ những năm 2000, bản đồ không gian ba chiều (3D) đã được thành lập bằng việc sử dụng bản đồ hai chiều (2D) phủ trên nền mô hình số độ cao (DEM),  các đối tượng địa vật là ký hiệu mô hình 3D có gắn ảnh chụp bề mặt đối tượng. Với cách làm như vậy, mất rất nhiều thời gian, công sức để ra một hình ảnh gần giống như thực tế.  
     Hiện nay, việc sử dụng các thiết bị bay không người lái để bay chụp ảnh phục vụ thành lập bản đồ 2D đã và đang được ứng dụng đạt hiệu quả cao ở Việt Nam. Các thiết bị bay không người lái (Unmaned Arial Vehicle - UAV) với đặc tính gọn nhẹ, được tích hợp thiết bị định vị vệ tinh GPS, máy ảnh số độ phân giải cao có thể chụp ảnh ở nhiều góc độ; đồng thời kết hợp với các phần mềm có thuật toán xử lý ảnh SfM (Structure-from-Motion) tự động tính toán để phục hồi lại mô hình 3D của tất cả các đối tượng trên mặt đất, từ đó có thể thành lập bản đồ 3D một cách tự động, giảm thiểu thời gian xây dựng mô hình 3D các đối tượng địa vật. 

Nâng cao độ chính xác của mô hình số địa hình bằng phương pháp lọc Kalman và phép làm trơn Rauch-Tung-Striebel
Dương Thành Trung, Đào Văn Khánh, Trương Minh Hùng
Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội
Nguyễn Đức Mạnh-Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ
     Tóm tắt:

     Mô hình số độ cao (DEM) là dữ liệu cần thiết cho các ứng dụng về nghiên cứu bề mặt trái đất, tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Trên thực tế, có hai cách chính để thành lập DEM là: (1) Phương pháp đo đạc truyền thống trong đó sử dụng các loại máy móc trắc địa để đo đạc trực tiếp bề mặt trái đất, và (2) Phương pháp viễn thám, trong đó việc thu nhận dữ liệu DEM được thực hiện bằng các thiết bị đặt trên các thiết bị bay hoặc vệ tinh. Thực tế thấy rằng phương pháp đo đạc truyền thống thường cho ra sản phẩm DEM có độ chính xác cao (từ 2cm-1m) nhưng chi phí sản xuất cao và năng suất thấp. Ngược lại, phương pháp viễn thám, đặc biệt là sử dụng các dữ liệu vệ tinh có giá thành thấp, năng suất cao, nhưng sản phẩm có độ chính xác thấp (từ 5m-30m). Từ vấn đề trên, chúng tôi đề xuất hướng nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả thành lập DEM bằng phương pháp tích hợp dữ liệu DEM vệ tinh và mặt đất thông qua phép lọc Kalman và phép làm trơn Rauch-Tung-Striebel.

Thành lập bản đồ tần suất canh tác lúa khu vực huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình sử dụng tư liệu viễn thám đa thời gian
Nguyễn Thanh Bình, Phạm Quang Vinh, Nguyễn Ngọc Thắng
Viện Địa lý-Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
     Tóm tắt:

     Tư liệu viễn thám đa thời gian (MODIS, Landsat …) đã từ lâu chứng minh tính hiệu quả trong giám sát quá trình canh tác nông nghiệp. Nghiên cứu này nhằm phát triển một phương pháp giám sát quá trình canh tác lúa ở huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình sử dụng dữ liệu viễn thám Landsat. Nghiên cứu đã tiến hành xử lý dữ liệu vệ tinh landsat từ tháng 1 năm 2008 đến tháng 11 năm 2016 (45 cảnh ảnh), sử dụng phương pháp cây phân loại (Decision tree). Quy trình phân loại được thực hiện trong bốn bước chính: (1) chiết tách và xử lý dữ liệu EVI, NDWI đa thời gian; (2) khoanh vùng khu vực canh tác lúa; (3) phân loại loại hình canh tác lúa; và (4) đánh giá độ chính xác. Độ chính xác tổng thể của quá trình phân loại là 77.3% và 80% tương ứng với các năm 2010 và 2015. Kết quả so sánh diện tích được phân loại từ ảnh vệ tinh và diện tích theo số liệu thống kê được đánh giá chưa cao. Đăc biệt khu vực lúa một vụ, có sự phân loại nhầm với cây trồng hàng năm khác và khu vực có cỏ. Nghiên cứu này đã chứng minh khả năng giám sát quá trình canh tác nông nghiệp bằng dữ liệu viễn thám Landsat.

Lập bản đồ dự báo sử dụng đất tỉnh Bình Dương đến năm 2030 bằng mô hình Land Changer Modeler (LCM) kết hợp dữ liệu ảnh vệ tinh Landsat
Đỗ Thị Phương Thảo, Bùi Ngọc Quý, Nghiêm Thị Huyền
Trường đại học Mỏ - Địa chất
Mai Văn Sỹ
 Công ty CP tư vấn thiết kế CTXD Hải Phòng
     Tóm tắt:

     Mục đích của nghiên cứu này là thành lập bản đồ dự báo biến động sử dụng đất giai đoạn trung hạn và dài hạn của tỉnh Bình Dương với nhiều lớp đối tượng sử dụng đất bằng mô hình dự báo LCM và dữ liệu ảnh vệ tinh Landsat. Kết quả phân tích bản đồ dự báo đến năm 2030 cho thấy một số loại hình sử dụng đất sẽ thay đổi đáng kể có thể gây ra mối đe dọa nghiêm trọng đến môi trường đô thị và ảnh hưởng đến việc phát triển bền vững của khu vực. 

Atlas điện tử Tây Nguyên
Nguyễn Trường Xuân, Đinh Bảo Ngọc, Nguyễn Thị Mai Dung
 Trường Đại học Mỏ - Địa chất
Nguyễn Đình Kỳ, Lê Thị Kim Thoa
Viện Địa lý – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
     Tóm tắt: 

     Atlas điện tử Tây Nguyên được xây dựng theo đề tài “Xây dựng cơ sở dữ liệu GIS và Atlas điện tử tổng hợp vùng Tây Nguyên” thuộc Chương trình Tây Nguyên 3. Nội dung của bài báo giới thiệu tổng hợp quá trình xây dựng hệ thống với các “công cụ kỹ thuật” tiên tiến hiện nay theo công nghệ WebGis

Ứng dụng tin học vào bài toán chuyển đổi hệ quy chiếu bản đồ số địa hình 
Đinh Công Hòa, Hoàng Thị Thủy
Trường Đại học Mỏ - Địa chất 
     Tóm tắt:

     Dữ liệu bản đồ số địa hình được thành lập trong các hệ quy chiếu khác nhau, với các kinh tuyến trục khác nhau ( HN72, VN2000, WGS84). Dữ liệu bản đồ số địa hình của các đơn vị sản xuất cũng rất đa dạng, được thành lập trên cở sở các phần mềm đồ hoạ khác nhau  (AutoCad, MicroStation, Mapinfo, ArcGis..). Các khuôn dạng dữ liệu đồ họa đa dạng. Vì vây nhu cầu của thực tế sản xuất là chuyển đổi bản đồ về cùng hệ toạ độ thống nhất để thuận lợi cho công tác quản lý và sử dụng. Đặc biệt trong thời kỳ hội nhập quốc tế, chuyển đổi dữ liệu bản đồ từ hệ tọa độ vuông góc phẳng VN2000 sang hệ quốc tê WGS-84 và ngược lại là cần thiết.
     Phần mềm Geosoft đã có các chức năng tự động chuyển đổi bản đồ về hệ toạ độ mong muốn từ dữ liệu ở các hệ quy chiếu, kinh tuyến trục và khuôn dạng dữ liệu khác nhau, đảm bảo bảo toàn mối quan hệ hình học của các đối tượng không gian và không làm thay đổi các thuộc tính của đối tượng, kết quả tính chính xác, trực quan thể hiện trên phần mềm đồ họa.

(Theo Phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác quốc tế)