Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ: Tóm tắt số 32 (tháng 6/2017)

Cập nhật : 31/07/2017
Lượt xem: 28
Đánh giá độ chính xác của mô hình Quasigeoid quốc gia khởi đầu vigac 2017

PGS.TSKH. Hà Minh Hòa (1), Lương Thanh Thạch (2) 
(1)Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ
(2)Trường Đại học Tài nguyên Môi trường Hà Nội
Tóm tắt:
     Bài báo khoa học này đã giới thiệu các kết quả xây dựng mô hình quasigeoid quốc gia khởi đầu VIGAC2017 với độ chính xác trong hệ quy chiếu tọa độ không gian khởi đầu VN2000-3D. Các kết quả kiểm tra cho thấy độ tin cậy và độ chính xác cao của mô hình quasigeoid quốc gia khởi đầu VIGAC 2017.

Nghiên cứu phương pháp phát triển hệ quy chiếu tọa độ không gian quốc gia VN2000-3D khi xuất hiện các điểm cơ sở mới
Lương Thanh Thạch
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Tóm tắt: 
     Trong tương lai, khi Việt Nam xây dựng thành công Hệ quy chiếu tọa độ không gian quốc gia VN2000 - 3D (Hệ tọa độ động), sau một thời gian khai thác và sử dụng sẽ có nhu cầu phát triển, mở rộng mạng lưới trắc địa GNSS cơ sở (xây dựng thêm các điểm cơ sở mới bằng công nghệ GNSS). Lúc này, chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng các trị đo cũ và các trị đo mới để bình sai lại toàn bộ mạng lưới. Tuy nhiên, cách làm này không lợi ích về mặt thời gian, kinh tế và không phù hợp với sự tiến bộ của lý thuyết xử lý số liệu mạng lưới trắc địa hiện đại. 
     Trong bài báo khoa học này, sẽ trình bày cơ sở lý thuyết và kết quả thực nghiệm của bài toán bình sai truy hồi với phép biến đổi xoay (thuật toán T) để cập nhật các trị đo GNSS theo cách tiếp cận hiện đại xử lý số liệu mạng lưới trắc địa mà không phải bình sai lại mạng lưới GNSS đã có từ trước, đáp ứng yêu cầu hiện đại của  hệ thống thông tin trắc địa quốc gia.
Lựa chọn hệ tọa độ để xác lập hệ quy chiếu trong xây dựng công trình ngầm
Nguyễn Quang Thắng (1), Nguyễn Hà (1), Diêm Công Huy (2)
(1)Trường Đại học Mỏ - Địa chất
(2)Viện Khoa học công nghệ Xây dựng
Tóm tắt: 
     Trong bài báo đã nghiên cứu, khảo sát lý thuyết và thực nghiệm để đánh giá độ lệch tọa độ địa diện chân trời của điểm do ảnh hưởng của độ chênh cao; ảnh hưởng của độ lệch dây dọi đến tọa độ địa diện trong phạm vi 10km. Nội dung bài báo cũng khảo sát đặc điểm biến dạng của tọa độ địa diện chân trời và tọa độ UTM địa phương theo kích thước vùng xét và chênh lệch độ cao điểm, trong đó có khu vực miền núi với chênh cao lớn. Từ đó đề xuất sử dụng hệ tọa độ địa diện để xác lập hệ quy chiếu trong xây dựng đường hầm đào đối hướng trên khu vực đồng bằng và miền núi.

Tìm hiểu Quy trình đo và xử lý số liệu trọng lực tuyệt đối bằng máy FG5x-245
TS. Nguyễn Phi Sơn, Nguyễn Tuấn Anh
Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ
Tóm tắt:
     Trọng lực là một chuyên ngành khoa học về trái đất, nghiên cứu xác định lực hút của trái đất và sự biến thiên của nó theo thời gian. Trọng lực có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn, áp dụng cho những ngành khoa học cơ bản như: trắc địa - bản đồ, địa chất - khoáng sản, tài nguyên nước, hải dương học, thiên văn học, hàng không, vật lý trái đất, quốc phòng..., trong số các chuyên ngành này có những nhiệm vụ đòi hỏi phép đo trọng lực với độ chính xác rất cao cỡ một vài microGal, như: xây dựng hoặc đo lặp mạng lưới trọng lực cơ sở, trọng lực hạng I quốc gia, thăm dò trọng lực các tỷ lệ rất lớn 1/500 đến 1/5000, xác định biến thiên mực nước ngầm… Cho đến năm 2012, Việt Nam chưa có máy đo trọng lực tuyệt đối mà phải hợp tác với Liên bang Nga trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống trọng lực quốc gia. Trước yêu cầu của lĩnh vực đo đạc và bản đồ trong xây dựng mô hình Quasigeoid, hoàn thiện hệ độ cao hiện đại… cũng như yêu cầu ứng dụng trong các chuyên ngành khác, Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường tăng cường năng lực nghiên cứu về trắc địa cao cấp với các máy đo trọng lực thế hệ mới nhất, trong đó có hệ thống máy đo trọng lực tuyệt đối FG5x. Đây là hệ thống thiết bị hiện đại và chính xác hàng đầu thế giới hiện nay do Mỹ sản xuất. Trong 2 năm qua các cán bộ của Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ đã nghiên cứu khai thác sử dụng, ứng dụng trong công tác trắc địa bản đồ, làm chủ được hệ thống, đưa ra các quy trình đo đạc, xử lý số liệu, đặc biệt là đã nghiên cứu ứng dụng trong thăm dò trọng lực về khoáng sản rắn, ứng dụng trong nghiên cứu động thái nước dưới đất. Trong bài báo này xin giới thiệu về máy FG5x bao gồm tính năng, quy trình đo và xử lý dữ liệu đo trọng lực tuyệt đối.

Đề xuất phương pháp tiếp cận xây dựng cơ sở dữ liệu bản đồ đa tỷ lệ
Vũ Xuân Cường
Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh
Tóm tắt: 
     Cơ sở dữ liệu đa tỷ lệ có thể được coi là hệ quả tất yếu của những nghiên cứu về tổng quát hóa bản đồ và đa thể hiện trong môi trường cơ sở dữ liệu. Trong đó, một trong những vấn đề quan trọng nhất là cần có phương pháp khách quan để kiểm soát nội dung thể hiện của bản đồ ở các tỷ lệ khác nhau. Bài báo này giới thiệu một tiếp cận xây dựng cơ sở dữ liệu bản đồ đa tỷ lệ dựa trên nền tảng các tiêu chí đánh giá khách quan nội dung bản đồ.

Ứng dụng thử nghiệm ảnh vệ tinh Spot6 trong công tác thành lập mô hình số địa hình (DSM)
TS. Phạm Minh Hải, Trịnh Thị Ngọc Bích
Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ
Tóm tắt:
     SPOT6 và SPOT7 là hai vệ tinh độ phân giải cao trong các thế hệ vệ tinh SPOT. Độ phân giải không gian của các vệ tinh này đã được nâng lên 1,5m so với 2,5m của SPOT 5, đây là vệ tinh quang học SPOT với nhiều cải tiến về kỹ thuật và khả năng thu nhận ảnh. Việc ứng dụng nguồn tư liệu độ phân giải cao này trong các hoạt động nghiên cứu và xây dựng mô hình số độ cao phục vụ mục đích thành lập và cập nhật phần địa hình chưa được tiến hành phổ biến. Mục tiêu của bài báo giới thiệu công tác thử nghiệm thành lập thành lập mô hình số địa hình (DSM) sử dụng cặp ảnh lập thể SPOT6 phục vụ công tác định hướng sử dụng nguồn dữ liệu này trong các ứng dụng thành lập và cập nhật dữ liệu phần địa hình. Nhóm nghiên cứu sử dụng phần mềm PCI Geomatica 2015 và phần mềm Google Earth để tiến hành thành lập và đánh giá độ chính xác của mô hình số bề mặt của khu vực thực nghiệm.

Nghiên cứu khả năng phát hiện bụi PM10 trong không khí bằng dữ liệu ảnh vệ tinh Landsat 8 oli khu vực Hà Nội
Nguyễn Như Hùng (1), Trần Vân Anh (2)
(1)Học viện Kỹ thuật Quân sự
(2)Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội
Tóm tắt:
     Bụi PM10 là bụi có đường kính khí động học từ 0,001÷10µm, đây là một trong những tác nhân ô nhiễm không khí ảnh hướng lớn tới sức khỏe con người. Trong bài báo này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu xác định bụi PM10 trong không khí bằng cách sử dụng các hình ảnh vệ tinh Landsat 8 OLI  khu vực trung tâm thành phố Hà Nội. Trọng tâm nghiên cứu về khảo nghiệm quá trình xác định ô nhiễm không khí, bắt đầu từ việc điều chỉnh khí quyển của vệ tinh Landsat 8 OLI bằng phương pháp DOS, tính AOT, hàm liên hệ giữa AOT và PM10, từ đó tiến hành tính PM10 từ dữ liệu ảnh vệ tinh Landsat 8 OLI ở khu vực trung tâm của thành phố Hà Nội.

Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật chuyển tọa độ và phương vị xuống hầm qua giếng đứng
Trần Viết Tuấn (1), Diêm Công Huy (2)
(1)Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội
(2)Viện Khoa học công nghệ Xây dựng

Tóm tắt:
     Nội dung của bài báo trình bày về kết quả nghiên cứu ứng dụng máy chiếu đứng để chuyền toạ độ và phương vị từ trên mặt đất xuống hầm qua giếng đứng trong thi công xây dựng các công trình hầm đào đối hướng. Cơ sở lý thuyết của giải pháp và kết quả đo đạc thực nghiệm nhằm xác định tính hiệu quả và độ chính xác đạt được của phương pháp chuyền toạ độ và phương vị xuống hầm bằng máy chiếu đứng ở Việt Nam.

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác khảo sát, đo đạc và thu thập dữ liệu các yếu tố hải văn trên Biển Đông
Dương Vân Phong (1), Khương Văn Long (2)
(1)Trường Đại học Mỏ - Địa chất
(2)Đoàn Đo đạc Biên vẽ hải đồ và Nghiên cứu biển
Tóm tắt:
Bài báo trình bày khái quát về đặc điểm khí tượng, hải văn và công tác khảo sát, đo đạc và thu thập dữ liệu các yếu tố hải văn trên Biển Đông. Trên cơ sở so sánh độ tin cậy của số liệu được lưu trữ trong CSDL với số liệu mới thu thập được, các tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác khảo sát, đo đạc và thu thập dữ liệu các yếu tố hải văn biển.

(Theo Phòng Khoa học Công nghệ và Hợp tác quốc tế)