Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ:Tóm tắt số 26 (tháng 12/2015)

Cập nhật : 31/12/2015
Lượt xem: 123

Đánh giá kiểm tra thế trọng trường W0 của mặt Geoid cục bộ hòn dấu trên cơ sở sử dụng 89 điểm độ cao hạng I

PGS. TSKH. Hà Minh Hòa (1), ThS. Nguyễn Thị Thanh Hương (1)
ThS. Lương Thanh Thạch(2)
(1)Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ
(2)Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Tóm tắt: 
     Bài báo khoa học này đã tiến hành tính toán kiểm tra giá trị thế trọng trường W0 = 62636847.291 m2.s-2 và giá trị độ cao H0 = 0.890 m của mặt geoid cục bộ Hòn Dấu so với mặt geoid toàn cầu dựa trên 89 điểm độ cao hạng I và mô hình địa hình động lực trung bình DTU10MDT quốc tế. Các kết quả kiểm tra một lần nữa xác định sự tin cậy của các giá trị nêu trên và làm cơ sở để sử dụng các giá trị này trong việc giải quyết các bài toán hiện đại của trắc địa vật lý ở nước ta...

Mô hình cơ sở dữ liệu phân quyền người dùng ứng dụng trên Webatlas Tây Nguyên
Nguyễn Trường Xuân (1), Đoàn Khánh Hoàng (1), Trần Thị Hải Vân (1)
Lê Thị Kim Thoa (2), Nguyễn Đình Kỳ (2)
(1)Trường Đại học Mỏ - Địa chất
(2)Viện Địa lý, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Tóm tắt: 
     Bài báo này giới thiệu quy trình phân tích và thiết kế mô hình cơ sở dữ liệu phân quyền người dùng ứng dụng áp dụng cho xây dựng và sử dụng WebAtlas Tây Nguyên. Bản thiết kế sử dụng mô hình dữ liệu quan hệ và chuẩn cơ sở dữ liệu mức 3. Bài báo cũng trình bày khái quát về thuật toán mã hóa MD5 được ứng dụng trong mã hóa mật khẩu người dùng, đảm bảo an toàn cho hệ thống.

Nén ảnh số theo nguyên lý hình học Fractal
Nguyễn Thị Hữu Phương 
Trường Đại học Mỏ - Địa chất
Tóm tắt: 
     Bài báo đề cập đến vấn đề ứng dụng nguyên lý của hình học Fractal vào công nghệ nén ảnh. Từ lâu hình học Fractal đã được ứng dụng trong tạo ảnh máy tính, ứng dụng trong ngành khoa học cơ bản, đặc biệt là trong công nghệ nén ảnh.. Fractal là phương pháp nén làm mất dữ liệu sử dụng hình học phân hình để đạt đến mức cao hơn của nén ảnh. Công nghệ nén Fractal dựa trên hình ảnh thực của bức ảnh, những phần của bức ảnh giống hệt nhau. Thuật toán Fractal chuyển đổi những vùng này, hay chính xác hơn, hình dạng hình học được chuyển thành dữ liệu toán học gọi là “mã Fractal” để tái tạo lại ảnh đã được mã hóa. Phương pháp nén Fractal có thể thay đổi những giả định đằng sau nén mất và không mất mát dữ liệu. Phương pháp nén ảnh theo nguyên lý hình học Fractal cho tỷ lệ nén cao từ 4:1 đến 10000:1.

Ứng dụng tư liệu viễn thám xác định xu hướng gia tăng bề mặt không thấm ở nông thôn
ThS. Lê Thị Thu Hà (1), ThS. Phạm Thị Làn (1), TS. Nguyễn Văn Trung (1)
GS. TS. Võ Chí Mỹ (2), PGS. TS. Phạm Văn Cự (3)
(1)Trường Đại học Mỏ - Địa chất,
(2)Hội Trắc địa - Bản đồ - Viễn thám Việt Nam
(3)Trường Đại học Khoa học Tự nhiên

Tóm tắt:
     Có một nhu cầu ngày càng tăng để hiểu mô hình và phát triển của các bề mặt không thấm ở các vùng nông thôn. Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện nay thường tập trung nghiên cứu và thành lập bản đồ bề mặt không thấm khu vực đô thị, trong khi đó có rất ít nghiên cứu về sự thay đổi bề mặt không thấm nông thôn. Trong bài báo này, chúng tôi sử dụng 12 đặc trưng không gian (Feature Space) cơ bản để tách đối tượng bề mặt không thấm từ chuỗi ảnh Landsat TM và OLI, bao gồm 6 chỉ số: (NDBI), (SAVI), (SI), (RISI), (Brightness), Max.diff và 6 kênh phổ không bao gồm kênh nhiệt của ảnh vệ tinh Landsat. Các đặc trưng cơ bản trên được tiếp tục sử dụng để giải đoán sự có mặt của đối tượng bề mặt không thấm trên ảnh vệ tinh nhờ sự trợ giúp của thuật toán K-Nearest Neighbors (KNN). Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng thuật toán K-Nearest Neighbors áp dụng cho nhóm các đặc điểm được chọn của bề mặt không thấm (6 kênh phổ, 6 chỉ số) cho phép chiết xuất chính xác đối tượng bề mặt không thấm ở nông thôn. Đây là cơ sở để đánh giá xu hướng thay đổi bề mặt không thấm khu vực nghiên cứu theo không gian và thời gian.

Ứng dụng phương pháp phân tích đặc trưng phổ và tổ hợp màu trên ảnh LANDSAT ETM thành lập sơ đồ địa chất ảnh khu vực huyện lương sơn tỉnh hòa bình
Nguyễn Thành Long, Đỗ Minh Hiển, Nguyễn Quốc Định
Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản
Tóm tắt:
     Trong nghiên cứu địa chất, việc ứng dụng công nghệ phân tích các ảnh viễn thám phổ biến như Landsat, ASTER,… đã đem lại rất nhiều kết quả hữu ích phục vụ cho công tác đánh giá, phân tích trong lĩnh vực địa chất. Khả năng của viễn thám cho các nghiên cứu địa chất đã được chứng minh là vô cùng phong phú với ưu điểm nổi bật liên quan tới số liệu được cung cấp có diện tích rộng và mức độ chi tiết cao. Đối với công tác giải đoán và phân tích ảnh viễn thám, các phương pháp xử lý, tăng cường chất lượng ảnh đóng vai trò vô cùng quan trọng. Nâng cao chất lượng ảnh thực chất là sử dụng các phương pháp biến đổi toán học làm tăng khả năng quan sát các đối tượng cần nghiên cứu. Đối với ảnh viễn thám khu vực Lương Sơn, Hòa Bình, các phương pháp tổ hợp màu và phân tích đặc trưng phổ đã được xử dụng. Kết quả xử lý viễn thám đã thành lập được sơ đồ địa chất ảnh khu vực Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.

Khảo sát quy trình thành lập lưới GPS/GNSS trong xây dựng công trình đường hầm
TS. Phạm Quốc Khánh (1), ThS. Võ Ngọc Dũng (1),
KS. Nguyễn Văn Thành (2)
(1)Trường đại học Mỏ - Địa chất
(2)Trường đại học Tài nguyên và Môi trường
Tóm tắt:
     Trong quá trình thiết kế, thi công và khai thác công trình ngầm nói chung và công trình đường hầm nói riêng, công tác trắc địa đóng vai trò quan trọng. Độ chính xác của các phép đo đạc và tính toán là nhân tố quyết định hiệu quả kinh tế-kỹ thuật của quá trình xây dựng đường hầm. Kết quả thông hướng đường hầm được thể hiện qua hai thành phần: độ chính xác hướng ngang và độ chính xác hướng dọc đường hầm, trong đó thông hướng ngang là đối tượng cần được được quan tâm hơn với yêu cầu độ chính xác cao hơn [1]. Sự sai lệch về hướng ngang vượt quá giới hạn cho phép so với thiết kế sẽ gây đình trệ sản xuất, tổn thất về kinh phí, thậm chí gây nguy hiểm tính mạng con người. Các công tác đo đạc phục vụ thi công trong đường hầm đều phải dựa vào mạng lưới khống chế trắc địa trên mặt đất. Chất lượng của mạng lưới này là yếu tố quết định độ chính xác và độ tin cậy của các phép cho hướng và kết quả thông hướng đường hầm. Trước đây, lưới khống chế mặt bằng trên mặt đất thường được thành lập bằng các phương pháp truyền thống dưới dạng lưới đo góc-cạnh như: các phương pháp giao hội, chuỗi tam giác, lưới đường chuyền .v.v… Các phương pháp này đòi hỏi nhiều thời gian và công sức, chất lượng mạng lưới bị suy giảm trong trường hợp đường hầm được thi công trong các điều kiện đia hình phức tạp, sông suối chia cắt .v.v…Trong thời gian gần đây, với sự phát triển của hệ thống GNSS, các mạng lưới khống chế trắc địa nói chung và lưới khống chế phục vụ xây dựng đường hầm nói riêng đã được thành lập bằng công nghệ hiện đại này. Tính ưu việt của phương pháp đã được minh chứng trong thực tiễn, tuy vậy, chưa có quy chuẩn cụ thể nào quy định quy trình thiết kế, và thi công lưới khống chế mặt bằng trong xây dựng công trình đường hầm bằng công nghệ GPS/GNSS.

Xây dựng quy trình công nghệ thành lập tập bản đồ hiện trạng tài nguyên thiên nhiên trên cơ sở ứng dụng viễn thám và GIS
TS. Nguyễn Quốc Khánh, ThS. Vũ Ngọc Phan
Trung tâm Thông tin và Tư liệu Môi trường
Tóm tắt: 
     Bài báo trình bày quy trình công nghệ thành lập tập bản đồ hiện trạng tài nguyên thiên nhiên (TNTN) trong phạm vi cấp tỉnh trên cơ sở ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS. Quy trình này đã được áp dụng trong thực tế với những hiệu quả nhất định.

Sử dụng dữ liệu ảnh viễn thám đa thời gian và phương pháp phân tích hồi quy đa biến trong việc ước lượng và phân bố trầm tích lơ lửng ven bờ khu vực ven biển từ Hải Phòng đến Nam Định

ThS. Ngô Thị Bích Trâm (1), ThS. Phạm Ngọc Hải (2), ThS. Hồ Việt Cường (3)
(1)Cục Bản đồ, Bộ Tổng Tham mưu - Bộ Quốc phòng
(2)Trường ĐH Công nghệ - ĐHQGHN
(3)Phòng thí nghiệm trọng điểm Quốc gia về Động lực học Sông Biển - Viện KHTLVN
Tóm tắt:
     Hàm lượng trầm tích lơ lửng trong nước biển là sự hiện diện của các tạp chất lơ lửng có kích thước thay đổi từ dạng phân tán thô đến dạng keo có thể là bùn cát, chất hữu cơ, vô cơ, thực vật và các vi sinh vật,...Ước tính hàm lượng vật chất lơ lửng ở cửa sông ven biển là rất quan trọng trong việc nghiên cứu thủy văn, địa mạo và diễn biến hình thái của vùng đồng bằng châu thổ. Các phương pháp đo đạc truyền thống để xác định hàm lượng trầm tích lơ lửng (TTLL) thường rất tốn kém và bị giới hạn về phạm vi không gian. Ưu điểm của việc sử dụng dữ liệu viễn thám là có thể cung cấp thông tin nhanh về khả năng phân bố không gian của hàm lượng trầm tích lơ lửng ở phạm vi lớn. Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng dữ liệu ảnh viễn thám đa thời gian để xác định mối quan hệ giữa phổ phản xạ từ ảnh vệ tinh Landsat đa thời gian với hàm lượng TTLL cửa sông ven biển từ Hải Phòng đến Nam Định dựa trên phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính đơn biến và đa biến...