Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ số 21: Tóm tắt nội dung một số bài báo

Cập nhật : 30/09/2014
Lượt xem: 18
Tóm tắt nội dung một số bài báo khoa học đăng tải trên Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ số 21 (tháng 9 năm 2014)

1. Tiếp cận phương pháp hoàn thiện và hiện đại hóa hệ độ cao quốc gia
Tác giả: PGS. TSKH. Hà Minh Hòa – Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ
Tóm tắt
Bài báo khoa học này nghiên cứu phương pháp hoàn thiện và hiện đại hóa hệ độ cao quốc gia, theo đó trên cơ sở thực nghiệm mô hình quasigeoid VIGAC2014 cho thấy nó cho phép nhận được các độ cao chuẩn độ chính xác cao trong hệ độ cao HP72 trên cả đất liền và các hải đảo. Việc xác định các điểm độ cao hạng I, II quốc gia có đo GPS mà trên đó các hiệu giữa dị thường độ cao trọng lực (được xác định từ mô hình quasigeoid VIGAC2014) và dị thường độ cao GPS/thủy chuẩn  có các giá trị đủ nhỏ sẽ cho phép giải quyết đồng thời  các bài toán làm tương thích mô hình quasigeoid VIGAC2014 với mô hình quasigeoid GPS/thủy chuẩn và hiện đại hóa hệ độ cao HP72 dựa trên mô hình quasigeoid VIGAC 2014 được làm tương thích. Theo cách tiếp cận này, chúng ta sẽ hiệu chỉnh lại các giá trị độ cao chuẩn cho phù hợp với mô hình quasigeoid được xây dựng đối với các điểm độ cao hạng I, II mà trên đó các hiệu giữa dị thường độ cao trọng lực và dị thường độ cao GPS/thủy chuẩn có các giá trị lớn vượt hạn sai.

2. Xử lý đối tượng thửa đất có cạnh là đường cong
Nhóm tác giả: ThS. Đinh Hải Nam, ThS. Phạm Thế Huynh, TS. Trần Thùy Dương - Trường Đại học Mỏ - Địa chất
Tóm tắt
Đối tượng đường cong là một đối tượng mới được đưa vào quản lý ranh giới thửa đất. Khi đưa đối tượng này vào quản lý phát sinh nhiều vấn đề cần giải quyết trong công tác thành lập bản đồ số địa chính. Bài báo này đưa ra giải pháp xử lý một số vấn đề liên quan đến việc quản lý thửa đất có cạnh là đường cong. Đây là tiền đề để xây dựng chương trình đồ họa độc lập khi quan tâm đến yếu tố đường cong trên cạnh thửa đất.

3. Nghiên cứu cơ sở khoa học chiết tách dữ liệu địa lý quân sự từ ảnh vệ tinh VNREDSAT-1 để cập nhật cơ sở dữ liệu nền địa lý quân sự
Tác giả: ThS. Nguyễn Thị Lan Phương - Cục Bản đồ, Bộ Tổng Tham mưu
Tóm tắt
Bài báo giới thiệu tóm tắt kết quả nghiên cứu cơ sở khoa học để chiết tách dữ liệu địa lý quân sự cho mục đích cập nhật cơ sở dữ liệu địa lý quân sự từ ảnh vệ tinh VNREDSAT-1, bao gồm các vấn đề có liên quan như  các yếu tố ảnh hưởng, phương pháp và quy trình chiết tách dữ liệu. Dữ liệu địa lý quân sự được chiết tách bằng phương pháp xử lý ảnh số dựa trên sự kết hợp giữa kỹ thuật chiết tách đối tượng theo đặc điểm phản xạ quang phổ và cấu trúc đối tượng.

4. Ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS thành lập bản đồ thảm thực vật và bước đầu ước tính khả năng tích tụ Carbon ở vường quốc gia YOK DON
Nhóm tác giả: 
ThS. Mạc Văn Chiến, Công ty CP Cavico Xây dựng Nhân lực và Dịch vụ
PGS.TS. Trần Văn ý, ThS. Nguyễn Thanh Tuấn, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
TS. Lưu Thế Anh, Viện Địa lý – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
ThS. Đinh Thị Thu Hiền, Viện Khoa học công nghệ Cơ khí, Tự động hóa và Môi trường
Tóm tắt
Tư liệu ảnh viễn thám và công nghệ hệ thông tin địa lý (GIS) đã và đang được sử dụng hiệu quả trong công tác đánh giá hiện trạng và theo dõi biến động của lớp phủ thực vật, giúp khắc phục được các nhược điểm của các phương pháp điều tra truyền thống trong lâm nghiệp. Nghiên cứu này trình bày tóm tắt kết quả thành lập bản đồ thảm thực vật VQG Yok Don tỷ lệ 1:50.000 từ ảnh SPOT5 chụp tháng 1/2011, trong đó rừng lá rộng thường xanh giàu có 4.145,76 ha; rừng lá rộng thường xanh trung bình có 16.928,97 ha; rừng khộp có 84.595,43 ha và rừng lá rộng nửa rụng lá nghèo có 8.216,88 ha. Kết hợp với số liệu điều tra sinh khối bề mặt của các kiểu rừng này, nghiên cứu đã ước tính nhanh trữ lượng carbon tích lũy trong từng kiểu rừng và trên toàn bộ lâm phần của VQG Yok Don khoảng 5.861.237,48 tấn. Đây là cơ sở khoa học ban đầu giúp lượng giá giá trị kinh tế của môi trường rừng VQG Yok Don thông qua tham gia thị trường carbon.

5. Công nghệ Lidar trong thành lập mô hình 3D khu vực đô thị
Nhóm tác giả: 
ThS. Đặng Thanh Tùng, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
ThS. Hoàng Thủy, Trường Đại học Mỏ địa chất
ThS. Đinh Thị Thu Hiền, Viện Khoa học công nghệ Cơ khí, Tự động hóa và Môi trường
Tóm tắt
Công nghệ Lidar hàng không thể hiện được nhiều ưu điểm trong công tác xây dựng mô hình 3D khu vực đô thị, việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ Lidar để xây dựng bản đồ không gian ba chiều là rất cần thiết trong thời điểm hiện nay. Bài báo tóm lược phương pháp nghiên cứu và quá trình xử lý dữ liệu Lidar kết hợp với các dữ liệu đã có như ảnh hàng không, ảnh vệ tinh, bản đồ … để xây dựng mô hình 3D khu vực đô thị tại thành phố Bắc Giang. Từ đó đưa ra một số đánh giá về khả năng, hiệu quả và tính khả thi của công nghệ Lidar áp dụng tại khu vực nghiên cứu.

6. Giới thiệu quy trình giám sát quy hoạch sử dụng đất bằng tư liệu viễn thám VNREDSAT-1
Nhóm tác giả: 
TS. Nguyễn Xuân Lâm, TS. Lê Quốc Hưng, KS. Đặng Trường Giang, KS. Bùi Thị Thanh Nga - Cục Viễn thám quốc gia
Tóm tắt
Công tác giám sát thực hiện quy hoạch sử dụng đất có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở phát hiện các sai phạm về thực hiện quy hoạch, kịp thời chấn chỉnh, đồng thời có cơ sở khoa học và thực tiễn để điều chỉnh quy hoạch. Thời gian qua, công tác giám sát gặp nhiều khó khăn do không theo kịp mức độ chuyển dịch mục đích sử dụng đất. Để nâng cao hiệu quả của công tác giám sát, ứng dụng  công nghệ viễn thám được xem như là giải pháp cho phép tiết kiệm thời gian cũng như giảm thiểu chi phí về nhân lực và vật lực. 
Ngày 7 tháng 5 năm 2013, vệ tinh viễn thám đầu tiên của Việt Nam - VNREDSat-1 đã phóng thành công lên quỹ đạo mở ra khả năng chủ động nguồn dữ liệu viễn thám phục vụ công tác giám sát thực hiện quy hoạch sử dụng đất. Thực tế cho thấy, dữ liệu viễn thám VNREDSat-1 có khả năng cung cấp nhiều thông tin với độ chính xác cao phục vụ giám sát thực hiện quy hoạch sử dụng đất. Bài báo đưa ra quy trình giám sát thực hiện quy hoạch sử dụng đất bằng dữ liệu viễn thám VNREDSat-1 và thử nghiệm tại địa bàn Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Từ kết quả thử nghiệm và đánh giá, quy trình giám sát thực hiện sử dụng đất đã được hoàn thiện và hình thành hai quy trình công nghệ cho giám sát nhanh và giám sát thường kỳ. Các quy trình công nghệ có tính thực tiễn cao, có thể ứng dụng rộng rãi trong thực tế sản xuất.

7. Phương pháp xử lý số liệu quan trắc liên tục xác định tham số dao động công trình
Nhóm tác giả:
PGS. TS. Vũ Thặng, ThS. Bùi Duy Quỳnh, ThS. Vũ Thái Hà - Trường Đại học Xây dựng
Tóm tắt
Bài báo giới thiệu kết quả nghiên cứu mô hình đo liên tục và phương pháp xử lý số liệu đo để xác định các tham số dao động công trình xây dựng dựa trên kết quả đo của các thiết bị hiện đại, có khả năng tự động đo liên tục như GPS, TĐĐT. 

8. Dự báo xu hướng biến động sử dụng đất khu vực Đông Anh, Hà Nội
Nhóm tác giả:
ThS. Trịnh Thị Hoài Thu, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội.
KS. Lê Thị Thanh Hương, Vụ Khoáng sản - Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam
Tóm tắt
Nghiên cứu biến động sử dụng đất được xem là một trong những nghiên cứu quan trọng góp phần vào việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất và đưa ra những chính sách phù hợp cho việc sử dụng đất một cách bền vững. Những năm gần đây các nhà khoa học đã xây dựng lý thuyết mô hình hóa cho nghiên cứu biến động sử dụng đất. Mô hình hóa là phương pháp mô phỏng sự thay đổi dựa trên sự hiểu biết về quy luật thay đổi sử dụng đất và dự báo thay đổi sử dụng đất trong tương lai. Mục đích của bài báo này là sử dụng chuỗi Markov mô phỏng xác suất của ma trận chuyển đổi dự báo thay đổi sử dụng đất cho Đông Anh, Hà Nội tới năm 2020.