Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ: Tóm tắt số 25 (tháng 9/2015)

Cập nhật : 01/10/2015
Lượt xem: 196

Vấn đề giải hệ phương trình chuẩn với ma trận chuẩn không xác định dương trong bài toán xây dựng cơ sở dữ liệu dị thường trọng lực theo phương pháp kriging tổng quát

PGS. TSKH. Hà Minh Hòa
Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ
 Tóm tắt:
     Tiếp theo bài báo khoa học (Hà Minh Hòa (2015)), trong bài báo này chúng ta sẽ nghiên cứu phương pháp xác định vectơ   trong mô hình bài toán nội suy các giá trị dị thường trọng lực tại các đỉnh của các ô chuẩn trong cơ sở dữ liệu (CSDL) dị thường trọng lực quốc gia từ các giá trị dị thường trọng lực trên các điểm trọng lực chi tiết. Chúng ta sẽ chỉ ra rằng phương pháp bình sai truy hồi với phép biến đổi xoay T-T cho phép giải quyết hiệu quả hệ phương trình chuẩn với ma trận chuẩn không xác định dương liên quan với bài toán xác định vectơ...    
Xây dựng vùng giá trị đất khu vực đất phi nông nghiệp tại đô thị bằng mô hình thống kê và công nghệ GIS
TS. Nguyễn Phi Sơn
Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ
Tóm tắt:
     Vùng giá trị đất là khái niệm thuộc phạm trù kinh tế đất, đã được nhiều nước trên thế giới nghiên cứu và ứng dụng trong các bài toán liên quan đến quy hoạch, đánh giá tiềm năng khu vực, dự báo kinh tế và định giá đất... Ở nước ta khái niệm vùng giá trị đã được đề cập đến trong những năm gần đây, một số nghiên cứu về lý thuyết, cách tiếp cận và đưa ra những quan điểm làm sáng tỏ khái niệm giá trị đất, đặc biệt giá trị đất được hiểu là giá trị quyền sử dụng đất. Trong kinh tế đất, vùng giá trị có vai trò quan trọng trong định hướng các bài toán kinh tế, giải quyết các mối quan hệ cơ bản trong định giá bất động sản và điều quan trọng đó là tạo nền tảng cho việc định giá đất đến từng thửa...
Mối quan hệ độ phân giải của ảnh và độ chính xác thành lập, hiện chỉnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 2000 và 1: 5000
TS. Đào Ngọc Long (1), ThS. Phạm Ngọc Sơn(2)
(1)Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ
(2)Cục Bản đồ Quân đội
Tóm tắt:
     Rất nhiều nghiên cứu đã bàn về độ phân giải của ảnh (ảnh vệ tinh, ảnh hàng không) liên quan đến tỷ lệ bản đồ cần thành lập nói chung. Ở Việt Nam, qui định kỹ thuật trong công tác bay chụp ảnh hàng không kỹ thuật số dạng chụp khung trong công tác thành lập, hiện chỉnh bản đồ địa hình chưa được ban hành.. Bài báo giới thiệu một số vấn đề liên quan đến mối quan hệ độ phân giải của ảnh và độ chính xác thành lập, hiện chỉnh bản đồ địa hình tỷ lệ 1: 2.000, 1: 5.000...
Triển khai hiệu quả bài toán hiệu chỉnh các hệ số điều hòa cầu của mô hình trọng trường Trái đất theo thuật toán Colombo O.L.
PGS.TSKH. Hà Minh Hòa
Th.S. Nguyễn Tuấn Anh
Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ
Tóm tắt:
     Sự phức tạp của việc giải quyết bài toán hiệu chỉnhcác hệ số khai triển điều hòa cầu của mô hình trọng trường Trái đất EGM dựa trên cơ sở dữ liệu dị thường trọng lực quốc gia nằm ở chỗ quá trình hiệu chỉnh tất cả các hệ số khai triển điều hòa cầu của mô hình trọng trường Trái đất EGMđược lặp lại theo các vĩ độ trắc địa lần lượt từ nhỏ đến lớn của các đỉnh của các ô chuẩn dị thường trọng lực. Điều này làm phức tạp hóa việc tổ chức tính toán các hàm Legendre kết hợp được chuẩn hóa và làm tăng thời gian tính toán. Bài báo khoa học này đề xuất các biện pháp  tổ chức tính toán hiệu quảđể giải quyết bài toán nêu trên.
Nghiên cứu chi tiết độ cao của mặt Geoid cục bộ Hòn Dấu so với mặt Geoid toàn cầu trên lãnh thổ Việt Nam
ThS. Nguyễn Tuấn Anh 
Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ
Tóm tắt:
     Bài báo đề cập đến việc đánh giá chi tiết độ cao của mặt Geoid cục bộ Hòn Dấu sát nhất với mặt biển trung bình nhiều năm tại trạm nghiệm triều Hòn Dấu so với mặt Geoid toàn cầu dựa trên các điểm trọng lực chi tiết trên lãnh thổ Việt Nam. Các kết quả tính toán cho thấy độ cao của mặt Geoid cục bộ Hòn Dấu so với mặt Geoid toàn cầu bằng 0.890 m và không đổi trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.
Đánh giá ảnh hưởng của biến động sử dụng đất đến dòng chảy mặt vùng núi phía bắc Lào: Tích hợp công nghệ viễn thám, GIS vàmô hình diễn toán dòng chảy mặt Curve number
TS. Trần Tuấn Ngọc(1), TS. Nghiêm Văn Tuấn(1),
ThS Nguyễn Thanh Nga(1), TS. Đỗ Thị Phương Thảo(2)
(1) Cục Viễn thám quốc gia ; (2) Đại học Mỏ Địa-Chất
Tóm tắt:
     Mục đích của bài báo là đánh giá ảnh hưởng của biến động sử dụng đất đến dòng chảy mặt trong vòng 15 năm qua phuc vụ công tác giám sát tài nguyên nước mặt khu vực phía Bắc của Lào (gồm 4 tỉnh: Vientiane, Xaignabouli, Louanphabang và Oudomxay). Sử dụng ảnh viễn thám Landsat7 ETM+ (năm 2000 và 2013) cho phép xác định được biến động lớp phủ nói chung và lớp phủ rừng nói riêng. Chúng tôi sử dụng phần mềm ENVI để phân loại lớp phủ năm 2000 và 2010 để đánh giá biến động lớp phủ; và sử dụng mô hình SWAT với phương pháp đường cong số (Curve Number) để tính toán lưu lượng dòng chảy dưới các điều kiện lớp phủ khác nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự suy giảm đáng kể tổng lưu lượng dòng chảy trong giai đoạn 2000-2010, đặc biệt là trong thời kỳ mùa khô; tác động trực tiếpvà kéo dài thời gianhạn hán ở khu vực phía Bắc của Lào. Trên thực tế, sự suy giảm lưu lượng dòng chảy là do sự suy giảm diện tích rừng ở phía bắc Lào từ cuối những năm 1990 đến nay; nó có liên quan đến việc tăng sự bốc thoát hơi nước và giảm khả năng giữ nước của lớp đất bề mặt ở những khu vực bị mất lớp phủ rừng. 
Xây dựng mô hình mặt địa hình biển động lực trung bình từ số liệu đo cao vệ tinh trên biển Đông
TS. Nguyễn Văn Sáng 1, KS. Vũ Trung Thành 2
(1)Trường Đại học Mỏ - Địa Chất
(2) Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ
Tóm tắt: 
     Độ cao mặt địa hình biển động lực trung bình (MDT: Mean Dynamic Topography) là khoảng cách từ mặt Geoid đến mặt biển trung bình. Bằng số liệu đo cao vệ tinh có thể xác định được MDT tại các điểm đo cao vệ tinh. Để thuận lợi cho việc sử dụng thì từ số liệu này cần phải xây dựng mô hình dạng lưới ô vuông mặt địa hình biển động lực trung bình. Công việc này được thực hiện bằng phương pháp nội suy dự đoán tuyến tính tối ưu. Từ đó đã xây dựng được chương trình nội suy MDT có tên là “MDT INTERPOLATION”. Kết quả thực nghiệm đã xây dựng được mô hình mặt địa hình biển động lực trung bình trên Biển Đông từ số liệu đo cao vệ tinh ENVISAT ở chu kỳ thứ 81. Kết quả khảo sát cho thấy khi nội suy MDT chỉ cần sử dụng các điểm trong vòng tròn bán kính 1o xung quanh điểm xét mà không cần sử dụng tất cả các điểm trên khu vực xét.
Xây dựng cơ sở dữ liệu địa lý từ dữ liệu ảnh thu nhận của thiết bị bay không người lái (UAV)
ThS. Đỗ Văn Dương
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Tóm tắt:
     Trên thế giới thiết bị bay không người lái (UAV) đã được sử dụng rất sớm vào công tác đo ảnh, dữ liệu ảnh của UAV được ứng dụng trong cả lĩnh vực quân sự và dân sự như: giám sát biên giới, giám sát thiên tai, theo dõi sản xuất nông nghiệp, giám sát giao thông,..[9÷15]. Ở Việt Nam, dữ liệu ảnh của UAV cũng đã được nghiên cứu vào các ứng dụng lập bản đồ địa hình, địa chính và xây dựng bản đồ mô hình 3D [1÷6], nhưng với công tác xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) địa lý từ dữ liệu ảnh của thiết bị này thì mới đang được thử nghiệm. Bài viết này nhằm mô tả quá trình xây dựng một cơ sở dữ liệu địa lý từ dữ liệu hình ảnh của UAV và phân tích đánh giá kết quả thực nghiệm.

(Theo Phòng Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế)