Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ: tóm tắt số 27 (tháng 3/2016)

Cập nhật : 11/05/2016
Lượt xem: 158
Bàn về đánh giá theo các phương pháp kriging và collocation 
GS. TSKH. Hà Minh Hòa
Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ
Tóm tắt:
     Dựa trên các điều kiện không xê dịch và sai số trung phương cực tiểu của đánh giá nội suy các đại lượng ngẫu nhiên trong trường ngẫu nhiên theo lý thuyết địa thống kê, bài báo khoa học này đã xem xét các cơ sở khoa học của các phương pháp kriging, collocation và chỉ ra rằng lý thuyết của phương pháp collocation được xây dựng không dựa trên điều kiện không xê dịch. Với mục đích nhận được đánh giá sự không xê dịch của độ lệch xác suất theo phương pháp collocation, các giá trị gần đúng của đại lượng ngẫu nhiên xác suất nhất được nội suy phải được xác định từ chính các đại lượng ngẫu nhiên trong trường ngẫu nhiên. Từ các kết quả nghiên cứu, bài báo đã chỉ ra sự không thích hợp của việc sử dụng các dị thường trọng lực được xác định từ mô hình EGM2008 làm các giá trị gần đúng của các giá trị dị thường được nội suy dựa trên các giá trị dị thường trọng lực mặt đất ở Việt Nam do các dữ liệu trọng lực ở Việt Nam không tham gia tính toán các  hệ số điều hòa của mô hình EGM2008.

Ứng dụng lý thuyết đồ thị để tìm kiếm tự động các vòng khép trong lưới trắc địa
Application of graph theory for automatically searching polygons in geodetic networks
Nguyễn Ngọc Lâu
Bộ môn Địa Tin Học – Trường Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh
Department of Geomatics Engineering – HCMC University of Technology
Tóm tắt: 
     Chúng tôi nghiên cứu bài toán tìm vòng khép trong lý thuyết đồ thị và áp dụng vào việc tìm kiếm tự động các vòng khép trong lưới Trắc địa. Công việc này phục vụ cho công tác đánh giá chất lượng trị đo và kiểm tra sai số thô. Chương trình đã lập ra được áp dụng một cách hiệu quả vào phần mềm GNSS Pro xử lý dữ liệu GNSS cạnh ngắn.

Nghiên cứu thử nghiệm sử dụng mô hình mặt biển tự nhiên toàn cầu (mean dynamic topography) phục vụ tính chuyển trị đo sâu về hệ độ cao quốc gia
TS. Dương Chí Công1, PGS. TSKH. Hà Minh Hòa1, ThS. Nguyễn Tuấn Anh1,
KS. Lê Thanh An2, TS. Hoàng Trung Thành3 
(1) Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ
(2) Trung tâm Trắc địa Bản đồ Biển, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
(3) Trung tâm Hải văn, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam
Tóm tắt:
     Trên thế giới các kết quả đo cao từ vệ tinh (Đo cao vệ tinh: Satellite Altimetry) như bề mặt biển tự nhiên biển (MSS – Mean Sea Surface), mặt địa hình biển động lực trung bình so với Geoid (MDT – Mean Dynamic Topography), xác định trường trọng lực và Geoid trên biển v.v đã được ứng dụng nhiều trong nghiên cứu về Hải dương học, Khí tượng – Hải văn biển, Trắc địa và Địa vật lý. Ở Việt Nam việc nghiên cứu sử dụng mô hình MSS, MDT trong Trắc địa bản đồ cũng đã được một số tác giả khởi xướng từ vài năm trở lại đây. Trong bài báo này chúng tôi thử nghiệm sử dụng mô hình DNSC08MDT để tính trị đo sâu. Mô hình này được cung cấp chính thức tại thời điểm nghiên cứu, sau này đã có thêm các mô hình DTU10, DTU12 được cải tiến hơn (Dương Chí Công và nnk, 2015). Tại khu vực Bắc Trung Bộ (từ vĩ tuyến ~15° đến ~20°, từ bờ biển đến kinh độ 116°) với mô hình DNSC08MDT sau khi cải chính (về Geoid cục bộ Hòn Dấu trong hệ triều 0 và độ lệch hệ thống so với các trạm nghiệm triều) đã tính được trị đo sâu cho 5 mảnh bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1/50.000. Độ chính xác trung bình đạt ±0.6m là có thể chấp nhận được đối với bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ 1/50.000 khu vực xa bờ (từ khoảng 20 km trở ra).

Nghiên cứu ứng dụng công nghệ đo cao GPS để thành lập bản đồ địa hình đáy biển ven bờ tỷ lệ lớn
PGS.TS Trần Viết Tuấn, Trường Đại học Mỏ-Địa chất
Ths. Phạm Văn Quang, Công ty CPTVTK và xây dựng 319
KS. Nguyễn Minh Thể, phân viện khoa học Đo đạc và Bản đồ Phía Nam
Tóm tắt:  
     Nội dung của bài báo trình bày phương pháp đo vẽ bản đồ địa hình đáy biển ven bờ tỷ lệ lớn bằng cách kết hợp công nghệ GPS (RTK) và máy đo sâu hồi âm. Nội dung, nguyên lý và khả năng ứng dụng của phương pháp đo vẽ bản đồ địa hình đáy biển ven bờ bằng công nghệ GPS(RTK). Kết quả đo đạc thực nghiệm tại vùng biển Vũng Tầu bằng công nghệ RTK đã khẳng định tính ưu việt và khả năng ứng dụng của công nghệ RTK trong đo vẽ thành lập bản đồ địa hình biển ven bờ ở Việt Nam.  

Nghiên cứu ảnh hưởng hệ thống đầu thu VNREDSAT-1 và môi trường khí quyển tới kết quả xử lý bức xạ ảnh
Lê Danh Cường(1), Nguyễn Văn Bình(1), Lương Nguyễn Hoàng Hoa(1),
Đinh Xuân Trường(1), 
Trần Ngọc Tưởng(2), Lương Chính Kế (3)
(1)Bộ Công An, (2)Cục Viễn thám quốc gia, (3)Hội Trắc địa, Bản đồ, Viễn thám Việt Nam
Tóm tắt:
     Biến đổi bức xạ ảnh mà đầu thu ảnh vệ tinh quang học ghi nhận được từ trị DN về ảnh bức xạ phản xạ bề mặt đất giống như thực tế ngoài thực địa là vấn đề rất phức tạp. Trước hết cần kể đến ảnh hưởng của hệ thống ghi nhận ảnh của đầu thu và tiếp theo là ảnh hưởng của môi trường khí quyển. Ảnh hưởng hệ thống ghi nhận ảnh được nhà cung cấp ảnh đưa ra, thông qua hai tham số kiểm định Gain và Offset (Bias) trong tệp siêu dữ liệu (header file) của ảnh. Từ đó, chúng ta biến đổi ảnh DN về ảnh bức xạ ở đỉnh khí quyển (hay ảnh bức xạ trước đầu thu). Bước tiếp theo, chúng ta cần loại bỏ ảnh hưởng của môi trường khí quyển tới bức xạ ảnh để nhận được ảnh phản xạ ở bề mặt đất của đối tượng. Phương pháp DOS (Dark Object Substraction) được coi là phương pháp rất thực tế vì không đòi hỏi các tham số về khí quyển, mà chỉ cần trích xuất một số thông tin từ ảnh có trong tệp siêu dữ liệu. Trong nghiên cứu của chúng tôi sử dụng ảnh vệ tinh VNREDSAT-1. Kết quả thực nghiệm cho thấy sản phẩm NDVI được tạo ra từ ảnh phản xạ bề mặt (Ro-surf) đảm bảo tính trung thực hơn so với ảnh NDVI được tạo ra từ ảnh gốc DN, hay từ ảnh bức xạ ở đỉnh khí quyển R, hoặc từ ảnh phản xạ ở đỉnh khí quyển (Ro-toa). Điều này phù hợp với các nghiên cứu trên thế giới.

Ứng dụng công nghệ viễn thám trong thành lập bản đồ lớp phủ mặt đất theo hướng dẫn của IPCC phục vụ công tác giám sát tài nguyên môi trường và biến đổi khí hậu
TS. Trần Tuấn Ngọc(1), KS. Vũ Thị Tuyết(1), 
ThS. Nguyễn Thanh Nga(1), ThS. Nông Thị Oanh(2)
(1) Cục Viễn thám quốc gia
(2) Đại học Mỏ - Địa chất
Tóm tắt:
     Lớp phủ mặt đất giữ vai trò quan trọng trong công tác giám sát tài nguyên môi trường và biến đổi khí hậu. Những thay đổi của các đối tượng trên bề mặt đất có mối liên hệ mật thiết đến những biến động về môi trường và khí hậu. Phân tích biến động của lớp phủ mặt đất là một trong những ứng dụng điển hình của công nghệ viễn thám trong giám sát tài nguyên, thiên nhiên và biến đổi khí hậu. Việc phân tích chính xác và kịp thời những biến động trên bề mặt trái đất đóng vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu mối quan hệ và tác động qua lại giữa con người và tự nhiên, nhằm phục vụ công tác quản lý của các cấp, các ngành. Với ưu thế vượt trội, công nghệ viễn thám cho phép giám sát, đánh giá nhanh sự thay đổi lớp phủ trên diện rộng mà những phương pháp truyền thống khó đạt được. Bài báo này chúng tôi muốn đặt vấn đề cho việc nghiên cứu phương pháp thành lập bản đồ lớp phủ mặt đất bằng công nghệ viễn thám, mục đích để tạo ra bộ dữ liệu cơ sở phục vụ công tác giám sát tài nguyên thiên nhiên và biến đổi khí hậu.

Khảo sát độ chính xác máy dò công trình ngầm hoạt động theo phương pháp cảm ứng điện từ
Nguyễn Việt Hà - Đại học Mỏ Địa chất
Tóm tắt: 
     Bản đồ công trình ngầm là tài liệu cơ sở để quản lý, sử dụng, cải tạo sửa chữa các công trình ngầm hiện có và cũng là tài liệu hết sức quan trọng, không thể thiếu cho việc thiết kế, xây dựng các công trình ở trên cũng như ở dưới mặt đất. Trên thế giới hiện nay có nhiều loại máy dò theo nguyên tắc Rada xuyên đất hoặc theo nguyên tắc cảm ứng điện từ. Trong nước hiện nay các máy dò công trình chủ yếu hoạt động theo nguyên tắc cảm ứng điện từ như máy dò IT4, máy dò công trình ngầm U-SCAN/SCANMITTER. Bởi vậy mục đích đặt ra của đề tài là khảo sát độ chính xác máy ḍò công trình ngầm hoạt động theo phương pháp cảm ứng điện từ.

Nghiên cứu xây dựng thuật toán xử lý số liệu đo hướng chuẩn
Nguyễn Quang Khánh, Trường Đại học Mỏ Địa chất
Tóm tắt:
     Bài báo có nội dung khảo sát phương pháp xử lý số liệu đo hướng chuẩn. Trên cơ sở phân tích đặc điểm đồ hình của phép đo hướng chuẩn đã xây dựng thuật toán chặt chẽ để bình sai các trị đo hướng chuẩn theo đúng nguyên lý số bình phương nhỏ nhất. Tính đúng đắn của hệ thống công thức và quy trình tính toán‎ số liệu hướng chuẩn đã được minh chứng thông qua các thực nghiệm với số liệu đo đạc thực tế. Phương pháp bình sai số liệu hướng chuẩn nêu trong bài báo này cho phép nâng cao hiệu quả của công tác xử lý số liệu hướng chuẩn và thuận lợi áp dụng trong thực tế sản xuất.  

Nghiên cứu xây dựng bộ ký hiệu phục vụ thành lập bản đồ thủy sản bằng phần mềm Microstation SE
ThS. Trần Thị Ngoan
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Tóm tắt:
    Sử dụng hệ thống biểu tượng chữ tượng hình là một phương pháp hiệu quả trong việc lập bản đồ vì nó làm cho người sử dụng dễ dàng hiểu nội dung của bản đồ, đặc biệt là bản đồ chuyên đề. Vì vậy, bài báo trình bày phương pháp để tạo ra một bộ ký hiệu tượng hình bằng phần mềm Microstation SE về các loài trong ngành nuôi trồng thủy sản để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Một số kết quả triển khai công tác phân giới cắm mốc biên giới giữa Việt Nam với các nước láng giềng
ThS. Phan Thị Nguyệt Quế, KS. Nguyễn Văn Sơn
Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam
Tóm tắt:
     Công tác biên giới là một nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia. Việt Nam có đường biên giới với ba nước trên đất liền và nhiều quốc gia trên biển Đông. Trong những năm qua, Việt Nam và các quốc gia láng giềng đã và đang thực hiện công tác phân định biên giới trên đất liền và trên biển. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam là cơ quan quản lý Nhà nước về đo đạc và bản đồ, đã có những hoạt động trong việc đảm bảo kỹ thuật cho công tác biên giới. Bài báo này nêu một số hoạt động cơ bản của Cục Đo đạc và Bản đồ Việt Nam, Bộ Tài nguyên và Môi trường trong việc phân định biên giới lãnh thổ. 

(Theo Phòng Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế)