Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ : Tóm tắt số 46 ( tháng 12/2020)

Cập nhật : 25/12/2020
Lượt xem: 238

ĐỊNH VỊ ĐIỂM CHÍNHXÁC CAO DÙNG VỆ TINH GALILEO CÓ GIẢI ĐA TRỊ

Nguyễn Ngọc Lâu - Bộ môn Địa Tin học, Trường Đại học Bách khoa TP. HCM

Tóm tắt:

Từ tuần lễ GPS 2034, Trung tâm Nghiên cứu Không gian Quốc gia Pháp bắt đầu cung cấp sản phẩm chính xác bản lịch và số hiệu chỉnh đồng hồ vệ tinh GALILEO có hỗ trợ cho việc giải đa trị. Chúng tôi đã khảo sát độ chính xác định vị điểm chỉ dùng GALILEO có giải đa trị tại 12 trạm GNSS thường trực ở khu vực Châu Âu. Kết quả cho thấy độ chính xác khi xử lý tĩnh 24h là (2.4, 3.8, 7.4)mm và khi xử lý động (9.7, 8.8, 26.8)mm theo hướng Bắc, Đông và độ cao. So với độ chính xác GPS tĩnh, thì thành phần hướng Đông và độ cao của GALILEO vẫn kém hơn gần ½. Trong khi đó độ chính xác định vị động GALILEO lại không có sự chênh lệch nhiều so với GPS.


ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP VIỄN THÁM VÀ TRẮC LƯỢNG HÌNH THÁI TRONG PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA THAY ĐỔI LỚP PHỦ THỰC VẬT VÀ PHÂN MẢNH MÔI TRƯỜNG SỐNG

Phạm Văn Mạnh, Đỗ Thị Ngọc Anh, Nguyễn Ngọc Thạch - TrườngĐại học Khoa học Tự nhiên, Đại học quốc gia Hà Nội

Phạm Minh Hải - Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

Tóm tắt:

Môi trường xây dựng, đặc biệt là cở sở hạ tậng đô thị và ven đô, có thể làm giảm khả năng phát triển tự nhiên của lớp phủ thực vật thông qua các cảnh quan. Duy trì kết nối cảnh quan đã trở thành chủ đề trong nghiên cứu sinh thái và bảo tồn, vì ranh giới của môi trường sống còn nguyên vẹn giúp duy trì các chức năng của hệ sinh thái. Kết nối cấu trúc được ước tính chỉ sử dụng lớp phủ, đây là cách tiếp cận đơn giản có tiềm năng lớn với ít yêu cầu về dữ liệu hơn cho việc lập kế hoạch hành lang bảo vệ. Nghiên cứu này, đã phân tích sự phân mảnh môi trường sống đối với kết nối cảnh quan khu vực Quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới bằng cách sử dụng phương pháp trắc lượng hình thái và lựa chọn được bảy chỉ số cảnh quan (LPI,PAFRAC, DCAD, TECI, LSI, DIVISION và SHDI) để định lượng sự thay đổi của các mẫu dạng cảnh quan. Kết quả cho thấy, sự gia tăng của các khu vực xây dựng cũng như mức độ đa dạng và phân mảnh cảnh quan phục vụ hiệu quả trong hoạt động ra quyết định quy hoạch bảo tồn và tổ chức lãnh thổ. 


GIẢI PHÁP CƠSỞ DỮ LIỆU KÝ THUẬT PHỤC VỤ DẪN XUẤT TỰ ĐỘNG CƠ SỞ DỮ LIỆU NỀN ĐỊA LÝ VÀ BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH

Đồng Thị Bích Phương, Trần Thị Minh Đức - Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

Tóm tắt

Bài báo chỉ ra sự cần thiếtvà đề xuất giải pháp xây dựng cơ sở dữ liệu (CSDL) kỹ thuật phục vụ dẫn xuất thành lập CSDL nền địa lý và bản đồ địa hình các tỷ lệ. Giải pháp được xây dựng dựa trên các nguyên tắc làm giàu dữ liệu, tổng quát hóa dữ liệu, bản đồ tự động và tái cấu trúc hệ thống CSDL nền địa lý và bản đồ địa hình quốc gia.

CƠ SỞ KHOA HỌC PHƯƠNG PHÁP ĐO ẢNH CHỤP TỪ THIẾT BỊ BAY KHÔNG NGƯỜI LÁI UAV

Nguyễn Đại Đồng - Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam

PGS.TS. Bùi Ngọc Quý - Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Tóm tắt:

Bài báo trình về cơ sở khoa học của phương pháp đo ảnh chụp từ thiết bị bay không người lái UAV dựa trên giải thuật biến đổi đối tượng phi tỉ lệ (Scale-Invariant Feature Transform- SIFT) và phương pháp tái tạo hình ảnh dựa vào chuyển động (Structurefrom Motion - SfM) trong công tác thành lập bản đồ địa hình.

THIẾT KẾ CHẾ TẠO HỆ THỐNG QUYÉT ĐỊA HÌNH MẶT ĐẤT DỰA TRÊN CÔNG NGHỆ ẢNH SỐ THU NHẬN DỮ LIỆU THÔNG TIN ĐỊA LÝ VÀ THÀNH LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH

Đặng Xuân Thủy, Lưu Hải Âu, Ngô Thị Liên – Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

Lưu Hải Băng – Viện Khoa học và Công nghệ Giao thông vận tải


Tóm tắt

Hiện nay, việc ứng dụng công nghệ ảnh số trong thu thập dữ liệu thông tin địa lý và thành lập bản đồ địa hình đã trở lên phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam nhờ những ưu điểm của công nghệ này như giảm thời gian thi công, giảm nhân công lao động qua đó mang lại lợi ích kinh tế cao. Được đánh giá có khả năng ứng dụng lớn tuy nhiên công nghệ ảnh số thường phải kết hợp với việc đo vẽ trực tiếp trong quy trình thu thập dữ liệu thông tin địa lý và thành lập bản đồ địa hình do những hạn chế chưa thể khắc phục được trong thực tế như: thiếu dữ liệu địa hình và địa vật tại những khu vực có độ che phủ cao, hạn chế trong thu thập dữ liệu chiều đứng của địa vật... Do đó, để hoàn thiện quy trình ứng dụng công nghệ ảnh số trong thu thập dữ liệu thông tin địa lý và thành lập bản đồ địa hình, cần có những nghiên cứu để khắc phục những nhược điểm trên. Nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu theo định hướng áp dụng công nghệ đo ảnh mặt đất để khắc phục những nhược điểm trên. Bài báo này giới thiệu hệ thống quét địa hình mặt đất dựa trên công nghệ ảnh số được tích hợp bởi camera ảnh số, máy định vị GNSS và một thiết bị IMU. Bên cạnh đó, bài báo tiến hành khảo sát độ chính xác của hệ thống này trong thu nhận dữ liệu thông tin địa lý, thành lập bản đồ địa hình.



ỨNG DỤNG VIỄN THÁM TRONG VIỆC XÁC ĐỊNH HƯỚNGSÓNG VÀ CHIỀU CAO SÓNG VÙNG BIỂN KHU VỰC DUYÊN HẢI BẮC BỘ

Nguyễn Hà Phú, Trần Tuấn Ngọc, Nguyễn Thị Phương Hoa, Nông Thị Oanh – Cục Viễn thám Quốc gia


Tóm tắt

Hướng sóng và chiều cao sóng là một trong những tham số quan trọng của sóng biển thường được xác định nhằm nghiên cứu các quá trình của đại dương cũng như trong việc phục vụ quản lý tổng hợp vùng bờ như thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển. Nghiên cứu này, trong khuôn khổ của đề tài “Ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS trong quản lý, bảo vệ và sử dụng hợp lý hành lang bờ biển Bắc bộ, thí điểm tại tỉnh Nam Định”, dữ liệu ảnh vệ tinh quang học Sentinel-2 và dữ liệu đo cao vệ tinh Jason-3 sẽ được sử dụng tương ứng để xác định hướng sóng và chiều cao sóng khu vực duyên hải Bắc Bộ. Kết quả cho thấy hướng sóng và chiều cao sóng được xác định theo phương pháp nói trên có sự tương đồng lớn so với dữ liệu thủy văn biển.


NGHIÊN CỨU VECTOR TILES VÀ FRAMEWORK NODEJS TRONG XÂY DỰNG MÁY CHỦ CUNG CẤP BẢN ĐỒ DẠNG TILE

Nguyễn Hoàng Long, Đinh Bảo Ngọc, Trần Thị Hải Vân – Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Nguyễn Đình Kỳ, Lê Thị Kim Thoa – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Tóm tắt:

Việc tối ưu hóa khả năng trực quan hóa và tăng khả năng truy vấn dữ liệu không gian trên WebGIS là yếu tố cần được quan tâm khi phát triển ứng dụng WebGIS. Kĩ thuật mảnh bản đồ (tiled map) đặc biệt là định dạng mảnh ảnh (raster tiles) đã được giới thiệu và cung cấp bởi nhiều hệ thống máy chủ GIS như ArcGIS Server, GeoServer với mục đích tăng tốc độ hiển thị dữ liệu không gian. Tuy nhiên, raster tiles có nhược điểm là dữ liệu được gửi tới máy khách chỉ dưới dạng hình ảnh. Điều này dẫn đến hạn chế trong việc truy vấn dữ liệu. Ngoài ra, việc định dạng các kiểu hiển thị cho các đối tượng trên bản đồ cũng bị hạn chế. Kĩ thuật mới vector tiles đã ra đời nhằm khắc phục các hạn chế của raster tiles. Bài báo này trình bày tổng quan về kỹ thuật tiles map đặc biệt là định dạng vecto rtiles. Ngoài ra, bài báo cũng trình bày các bước trong việc xây dựng một ứng dụng cung cấp dịch vụ vector tiles dựa trên các nền tảng mã nguồn mở miễn phí : PostgreSQL,NodeJS và MapNik


THEO DÕI HẠN HÁN TRONG MÙA KHÔ BẰNG CHỈ SỐ HẠN HÁN NDDI TRÊN CÔNG CỤ GOOGLE EARTHENGINE, THÍ NGHIỆM TẠI TỈNH ĐĂK NÔNG

Tống Thị Huyền Ái, Nguyễn Phúc Hải - Viện Công nghệ vũ trụ, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Lê Hữu Dụng - Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ

Võ Hồng Hiền - SởTài nguyên và Môi trường tỉnh Bến Tre

Phạm Thị Làn -  Khoa Trắc địa-Bản đồ và Quảnlý đất đai, Trường Đại học Mỏ Địa chất

 

Tóm tắt:

Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa các chỉ số vật lý NDVI, NDWI và NDDI với mức độ hạn hán của tỉnh ĐăkNông. Dữ liệu ảnh Landsat trong mùa khô từ năm 2005-2019 được thu thập, tiền xử lý và tính toán các chỉ số trên công cụ Google Earth Engine một cách nhanh chóng. Các kết quả sau khi phân tích chỉ ra rằng, NDWI và NDDI có độ nhạy với hạn hán tốt hơn so với chỉ số NDVI. Trong đó, giá trị NDDI>0,8 và NDWI<0,1 là những khu vực ở mức độ hạn nhẹ. Chỉ số NDDI càng tăng thì khả năng xảy ra hiện tượng hạn hán càng cao. Do đó chỉ số này có thể được sử dụng như một chỉ báo để theo dõi và giám sát hạn hán cho tỉnh Đăk Nông trong mùa khô.


KHẢ NĂNG THÀNH LẬP BẢNĐỒ THỔ NHƯỠNG BẰNG CÔNG NGHỆ VIẾN THÁM THEO QUY ĐỊNH KỸ THUẬT CỦA IPCC PHỤC VỤ TÍNH TOÁN PHÁT THẢI KHÍ CÁC BON TẠI VIỆT NAM

Vũ Thị Phương Thảo - Trường Đại học Mỏ - Địa chất, Bộ Giáo dục và Đào tạo

Tóm tắt:

Trữ lượng các bon trong các loại hình thổ nhưỡng là một phần quan trọng của bể chứa các bon. Để tính toán lượng phát thải khí các bon từ thổ nhưỡng, phải phân tách được các đối tượng thổ nhưỡng. Theo IPCC,trữ lượng các bon thay đổi theo các tiểu vùng khí hậu và loại thổ nhưỡng. Công nghệ viễn thám với ưu thế minh bạch, đa thời gian, độ phủ rộng là công nghệ hữu dụng trong hướng đi này. Bài báo tập trung vào thành lập bản đồ thổ nhưỡng bằng công nghệ viến thám theo quy định kỹ thuật của IPCC phục vụ tính toán phát thải khí các bon tại Việt Nam. Kết quả được kiểm nghiệm và sử dụng trong báo cáo cập nhật hai năm một lần lần thứ hai của Việt Nam cho Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu gồm nội dung, thông tin cập nhật kiểm kê khí nhà kính.