Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ (Tóm tắt số 42 tháng 12/ 2019)

Cập nhật : 15/01/2020
Lượt xem: 137

XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHƯƠNG PHÁP PPP DỰA TRÊN MẠNG LƯỚI CÁC TRẠM CORS

HÀ MINH HÒA - Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

Tóm tắt:

Sự phát triển nhanh phương pháp PPP trong xử lý các dữ liệu GNSS trên cơ sở khai thác hiệu quả các trạm CORS là xu hướng đang được các nước nghiên cứu và phát triển từ năm 2000 dựa trên việc phát triển mạnh mẽ các mạng lưới các trạm CORS và sử dụng các dịch vụcủa tổ chức IGS. Phương pháp PPP có ưu điểm là cho phép định vị nhanh điểm GNSS trong vòng 30’ với độ chính xác ở mức dm đến cm. Đây là xu hướng cần phát triển ở Việt Nam để thúc đẩy công tác nghiên cứu, ứng dụng và giảng dậy về công nghệ GNSS ở Việt Nam.

ĐÁNH GIÁ ĐỘ SÂU BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH ĐÁY BIỂN VÀ HẢI ĐỒ DỰA TRÊN CÁC MÔ HÌNH MẶT BIỂN

LƯƠNGTHANH THẠCH - Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
TRẦNVĂN HẢI -   Xí nghiệp Trắc địa,Công ty TNHH MTV Trắc địa Bản đồ
NGUYỄNTHỊ HỒNG - Trường Đại học Hàng hải Việt Nam
ĐỖ VĂN MONG -  Đoàn Đo đạc Biên vẽ hải đồ và Nghiên cứu biển

Tóm tắt:

Bài báo khoa học này trình bày kết quả xây dựng mô hình mặt biển thấp nhất khu vực trên vùng biển Việt Nam và sử dụng mô hình mặt biển trung bình khu vực và mô hình mặt biển thấp nhất khu vực để đánh giá sự phù hợp của dữ liệu độ sâu bản đồ địa hình đáy biển và độ sâu hải đồ trong bài toán xác định độ sâu bản đồ địa hình đáy biển từ độ sâu hải đồ.

NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC TRONG LỰA CHỌN CHỈ SỐ CẢNH QUAN PHÙ HỢP PHỤC VỤ CÔNG TÁC GIÁM SÁT BIẾN ĐỔI CẤU TRÚC RỪNG NGẬP MẶN. THỰC NGHIỆM TẠI RỪNG NGẬP MẶN MŨI CÀ MAU

PHẠM MINH HẢI, ĐỖ THỊ HOÀI - Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

Tóm tắt:

Chỉ số (spatial metrics) được định nghĩa là các chỉ số cảnh quan để mô tả hình thái và cấu trúc của cảnh quan (O Neill và ctv, 1988). Các nghiên cứu đánh giá sự thay đổi cấu trúc rừng dựa trên ảnh vệ tinh sử dụng các chỉ số cảnh quan đang trở thành một xu hướng phổ biến trong nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của phân mảnh rừng tới các hệ sinh thái. Tuy nhiên cho tới hiện nay, sự tìm hiểu hiểu toàn diện về lý thuyết về sử dụng đúng các chỉ số cảnh quan phục vụ cho các mục đích trong các điều kiện khác nhau chưa được phổ biến. Có rất nhiều chỉ số cảnh quan đã được phát triển phục vụ phân tích cảnh quan như: phân tích biến động lớp phủ bề mặt, biến động đô thị và rừng. Do vậy,công tác nghiên cứu nhằm lựa chọn chỉ số cảnh quan phù hợp cho nghiên cứu biến động về cấu trúc rừng, đặc biệt là rừng ngập mặn, khi kết hợp với công nghệ viễn thám là một vấn đề đặt ra cần được quan tâm giải quyết. Mục tiêu của bài báo này này nhằm nghiên cứu cơ sở khoa học trong lựa chọn chỉ số cảnh quan phù hợp cho tiêu chí phân mảnh rừng phục vụ công tác giám sát biến đổi cấu trúc rừng ngập mặn. Nghiên cứu được thực nghiệm tại rừng ngập mặn Mũi Cà Mau.

NGHIÊN CỨU THUẬT TOÁN PHÁT HIỆN SAI SỐ HỆ THỐNG DO CHIẾT QUANG TRONG ĐO GÓC ĐỨNG CỦA LƯỚI KHÔNG GIAN CÔNG TRÌNH KẾT HỢP MẶT ĐẤT – VỆ TINH

HOÀNG NGỌC HÀ -  Trường Đại học Mỏ-Địa chất
VŨ THÁI HÀ - Trường Đại học Xây dựng

Tóm tắt:

Trị đo mặt đất trong lưới kết hợp mặt đất – vệ tinh hiện nay chủ yếu là trị đo góc bằng và trị đo cạnh nghiêng. Với độ chính xác đo góc của các máy toàn đạc điện tử hiện đại, sai số đo góc cỡ ±1’’, hoàn toàn có thể đo thêm trị đo góc đứng làm tăng độ chính xác xác định độ cao cho dạng lưới không gian kết hợp mặt đất – vệ tinh. Tuy nhiên,trong quá trình đo góc đứng không thể tránh khỏi nhiều nguồn sai số, đặc biệt là sai số hệ thống do ảnh hưởng của chiết quang. Trong bài báo đã nghiên cứu thuật toán phát hiện sai số hệ thống trong đo góc đứng, nhằm nâng cao độ chính xác xác định độ cao trong lưới không gian kết hợp mặt đất –vệ tinh. Việc nghiên cứu thuật toán bình sai này cả về phương diện lý thuyết và thực tiễn đã được thực hiện thành công và trình bày trong bài báo.

ĐO SÂU ĐỊA HÌNH ĐÁY BIỂN VÙNG NƯỚC NÔNG BẰNG PHƯƠNG PHÁP ĐO ẢNH LẬP THỂ SỬ DỤNG DỮ LIỆU WORLDVIEW-2, THỬ NGHIỆM TẠI BÃI HẢI SÂM, QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA

NGUYỄN HÀ PHÚ - Cục Viễn thám Quốc gia

 PHẠM MINH HẢI - Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

NGUYỄN TRỌNG TRƯỜNG SƠN - Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

Tóm tắt:

Dữ liệu ảnh vệ tinh đa phổ đã được ứng dụng phổ biến trong đo sâu địa hình đáy biển vùng nước nông.Trước đây, phần lớn các nghiên cứu tập trung vào phương pháp xác định độ sâu dựa vào các giá trị bức xạ trên ảnh. Tuy nhiên, với khả năng chụp ảnh lập thể trên cùng một quỹ đạo của vệ tinh WorldView-2, việc đo sâu địa hình đáy biển theo phương pháp tiếp cận đo ảnh lập thể đã được quan tâm nhiều hơn do ưu điểm không cần các trị đo ngoại nghiệp. Tiến hành thử nghiệm đối với khu vực bãi Hải Sâm thuộc quần đảo Trường Sa cho thấy sau khi hiệu chỉnh bức xạ do ảnh hưởng của sóng và lóa sáng gây ra bởi phản xạ gương của ánh sáng mặt trời trên bề mặt biển cũng như hiệu chỉnh độ sâu do khúc xạ tại bề mặt giữa hai môi trường nước và không khi thì khả năng đo sâu địa hình đáy biển bằng phương pháp đo vẽ lập thể sử dụng ảnh vệ tinh WorldView-2 được tăng cường đáng kể với độ sâu tối đa có thể đạt đến là trên 42,0 m. Kết quả này cho thấy đo sâu địa hình đáy biển có thể áp dụng trong những điều kiện tương tự tại các đảo, đá và bãi ngầm tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP KỸ THUẬT SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ GNSS-RTK TRONG THI CÔNG XÂY DỰNG NHÀ SIÊU CAO TẦNG Ở VIỆT NAM

TRẦN VIẾT TUẤN - Trường đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội

DIÊM CÔNG TRANG - Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng

Tóm tắt:

Nội dung của bài báo trình bày kết quả nghiên cứu về một số giải pháp kỹ thuật cần ứng dụng khi sử dụng công nghệ GNSS-RTK để bố trí thi công xây dựng công trình nhà siêu cao tầng. Cơ sở lý thuyết, kết quả đo đạc thực nghiệm khi ứng dụng của các giải pháp kỹ thuật này nhằm nâng cao khả năng ứng dụng của công nghệ GNSS-RTK trong quá trình đảm bảo thi công các công trình xây dựng nhà cao tầng và siêu cao tầng ở Việt Nam.

KHẢ NĂNG TÍNH TOÁN PHÁT THẢI KHÍ CÁC BON TRONG LĨNH VỰC SỬ DỤNG ĐẤT, THAY ĐỔI SỬ DỤNG ĐẤT VÀ RỪNG SỬ DỤNG DỮ LIỆU ẢNH VIỄN THÁM

LÊ QUỐC HƯNG - Cục Viễn thám Quốc gia

VŨ THỊ PHƯƠNG THẢO - Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội

TRẦN THU HUYỀN - Cục Biến đổi khí hậu

Tóm tắt:

Việc tính toán phát thải khí nhà kính nói chung, phát thải các bon nói riêng trong lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp phục vụ tính toán phát thải khí các bon được khuyến cáo áp dụng công nghệ tiên tiến để xây dựng bộ dữ liệu đầu vào. Công nghệ viễn thám, bao gồm viễn thám vệ tinh và thiết bị bay không người lái, với ưu thế minh bạch, đa thời gian, độ phủ rộng là công nghệ hữu dụng trong hướng đi này. Bài báo tập trung vào khả năng tính toán phát thải khí thải khí nhà kính, đặc biệt là khí các bon trong lĩnh vực sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và rừng trên cơ sở đề xuất quy trình và thử nghiệm sử dụng phần mềm ước tính phát thảikhí nhà kính ALU với dữ liệu đầu vào chiết tách từ ảnh viễn thám. Kết quả được kiểm nghiệm và sử dụng trong báo cáo cập nhật hai năm một lần lần thứ hai của Việt Nam cho Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu gồm nội dung, thông tin cập nhật kiểm kê khí nhà kính.

CÁC PHƯƠNG PHÁP QUAN TRẮC TRƯỢT LỞ ĐẤT

LÊ THỊ HÀ - Khoa Công trình, Trường Đại học Giao thông Vận tải, TPHCM

Tóm tắt:

Bài báo giới thiệu về các phương pháp quan trắc trượt lở đất đang được ứng dụng trên thế giới. Trượt lở đất là một dạng tai biến vừa có tính chất tiềm ẩn vừa có tính chất hiểm họa,nó gây ra nhiều thiệt hại lớn và gây nguy hiểm đến tính mạng cũng như cuộc sống sinh hoạt của người dân. Vì vậy quan trắc trượt lở đất là rất cần thiết nhằm sớm phát hiện các chuyển vị và biến dạng. Trong bài báo tác giả giới thiệu một số các thiết bị đo đạc và cách thức quan trắc chuyển vị độ dốc nhằm đưa ra các giải pháp hữu hiệu có thể áp dụng đối với địa hình phức tạp ở Việt Nam.

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP LƯU TRỮ BẢN ĐỒ NGOẠI TUYẾN TRÊN THIẾT BỊ DI ĐỘNG

TRẦN THỊ HẢI VÂN, ĐINH BẢO NGỌC, NGUYỄN TRƯỜNG XUÂN, NGUYỄN HOÀNG LONG, TRẦN ANH TUẤN - Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Tóm tắt:

Các ứng dụng mobile GISgiúp cho công việc thu thập dữ liệu và phân tích dữ liệu ngoại nghiệp trở nên dễ dàng và tiện lợi hơn bao giờ hết. Theo cách truyền thống việc tiếp cận và sửa dữ liệu thu thập ngoài hiện trường luôn mất nhiều thời gian và dễ gây lỗi. Các dữ liệu thực địa được biểu diễn qua sơ đồ và các dấu hiệu trên bản đồ giấy sau đó được chuyển về văn phòng để giải đoán và nhập dữ liệu vào trong cơ sở dữ liệu GIS. Phương pháp này cho thấy dữ liệu GIS không được thường xuyên cập nhật mới hoặc chính xác. Với khu vực nghiên cứu là tỉnh Cao Bằng là tỉnh miền núi khu vực phía bắc, kết nối Internet ở các khu vực ngoại nghiệp như dọc đường biên giới, đường tuần tra trong rừng gặp nhiều khó khăn, gây ảnh hưởng tới việc cập nhật,phân tích và hiển thị bản đồ trên các ứng dụng Mobile GIS. Để khắc phục sự hạn chế của hạ tầng kết nối Internet của Cao Bằng, công nghệ lưu trữ bản đồ ngoại tuyến (offline), công nghệ cho phép lưu trữ và hiển thị bản đồ ngay cả khi không có kết nối mạng được đề xuất. Công nghệ này cho phép thu thập và lưu trữ các dữ liệu ngoại nghiệp ngay trên các thiết bị di động và đồng bộ hóa dữ liệu về phía máy chủ ngay khi có kết nối mạng Internet. Trong bài viết này sẽ trình bày các giải pháp cho phép lưu trữ bản đồ ngoại tuyến phục vụ công tác quản lý các đối tượng đường biên tỉnh Cao Bằng.