Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ: Tóm tắt số 33 (tháng 9/2017)

Cập nhật : 01/10/2017
Lượt xem: 240

Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ: Tóm tắt số 33 (tháng 9/2017)


Đánh giá khả năng sử dụng mô hình số độ cao toàn cầu độ phân giải 1” x 1” trong việc tính toán các số hiệu chỉnh bề mặt đất ở các khu vực rừng núi Việt Nam
PGS.TSKH. Hà Minh Hòa, Đặng Xuân Thủy
Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ
Tóm tắt:
Việc sử dụng mô hình số độ cao toàn cầu để tính các số hiệu chỉnh Faye có ưu điểm nổi bật là bao phủ được các khu vực mà ở đó không có các dữ liệu địa hình quốc gia. Hiện nay các tổ chức khoa học – công nghệ quốc tế và các nước phát triển sử dụng rộng rãi các mô hình số độ cao toàn cầu để tính toán các số hiệu chỉnh Faye khi xây dựng các CSDL dị thường trọng lực toàn cầu hoặc quốc gia. Tiêu chuẩn cơ bản để làm điều này là sai số của các chênh cao được xác định từ mô hình số độ cao không được lớn hơn 50 m và các mô hình số độ cao toàn cầu đáp ứng được yêu cầu này. Bài báo khoa học này đã chứng minh tiêu chuẩn nêu trên và thực nghiệm đánh giá độ chính xác của mô hình số độ cao toàn cầu SRTM1 (1” x 1”) dựa trên 89 điểm độ cao hạng I ở Việt Nam. Các kết quả thực nghiệm cho thấy rằng đa số các độ chênh giữa các độ  cao chỉ ở mức một vài mét, riêng điểm độ cao I(DN-BT)28 có độ chênh lớn nhất bằng 19,577 m, sai số trung phương củađộ cao từ mô hình SRTM1 ở mức ± 5,480 m. Do đó mô hình số độ cao toàn cầu SRTM1 hoàn toàn đáp ứng yêu cầu tính toán các số cải chính Faye để xây dựng cơ sở dữ liệu trọng lực ở Việt Nam.

Nghiên cứu khả năng nâng cao độ chính xác độ cao trắc địa quốc gia nhờ việc giải quyết bài toán bình sai ghép nối mạng lưới GNSS vào Hệ quy chiếu tọa độ không gian quốc gia VN2000-3D
Lương Thanh Thạch
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Tóm tắt:
Trong quá trình xây dựng Hệ quy chiếu tọa độ không gian quốc gia, mạng lưới GNSS phủ trùm (tạm gọi là mạng lưới GNSS hạng A) có vị trí rất quan trọng. Các trị đo của mạng lưới GNSS hạng A đóng vai trò như các trị đo dư, nên sau khi bình sai ghép nối dựa vào các điểm trùng, độ chính xác độ cao trắc địa của các điểm mặt đất sẽ được nâng lên - đây là một trong những yêu cầu rất quan trọng đặt tiền đề cho việc xây dựng Hệ quy chiếu tọa độ không gian quốc gia.
Bài báo khoa học này đã nghiên cứu cơ sở lý thuyết của bài toán bình sai ghép nối mạng lưới GNSS vào Hệ quy chiếu tọa độ không gian quốc gia và tiến hành tính toán thực nghiệm. Kết quả thực nghiệm trong bài báo đã chỉ ra rằng, độ chính xác độ cao trắc địa đã được nâng lên cỡ 4 lần sau khi thực hiện bình sai ghép nối.

Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực và hiệu quả cung cấp dữ liệu của hệ thống VNREDSat-1
Nguyễn Hà Phú, Trần Tuấn Ngọc (1),
Ngô Duy Tân, Bùi Trọng Tuyên, Phạm Minh Tuấn, Chu Xuân Huy (2)
(1) Cục Viễn thám quốc gia, Bộ Tài nguyên và Môi trường
(2) Viện Công nghệ vũ trụ, Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam
Tóm tắt:
Hệ thống vệ tinh viễn thám quan sát Trái đất đầu tiên của Việt Nam (VNREDSat-1) đã và đang được khai thác hiệu quả kể từ năm 2013. Đến nay, sau hơn bốn năm vận hành và khai thác, hệ thống đã cung cấp trên 6 vạn cảnh ảnh, phục vụ các nhu cầu giám sát tài nguyên thiên nhiên, môi trường và thiên tai, đáp ứng các yêu cầu chụp ảnh cho mục đích an ninh-quốc phòng và đặc biệt cũng tích cực tham gia hợp tác quốc tế với các đối tác trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, hệ thống VNREDSat-1 là hệ thống khép kín và có xuất xứ từ Châu Âu, do vậy quá trình quản lý, vận hành và khai thác cần phải được tối ưu phù hợp với điều kiện hoạt động tại Việt Nam. Bài báo này sẽ trình bày tổng kết quá trình vận hành và khai thác hệ thống, đồng thời đề xuất các phương án nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả cung cấp dữ liệu của hệ thống VNREDSat-1.

Nghiên cứu quy trình phát hiện biến động đất đai phục vụ cho công tác quản lý đất đai bằng công nghệ bay chụp ảnh từ thiết bị bay không người lái (UAV)
Lê Thị Kim Dung
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Tóm tắt:
Việt Nam là một quốc gia có nguồn tài nguyên đất đai hạn chế, bên cạnh đó do áp lực gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hóa đô thị hóa đòi hỏi công tác quản lý nguồn tài nguyên đất đai hiệu quả đang trở nên cấp thiết. Để làm được điều đó cần cập nhật liên tục những thông tin về quỹ đất và tình trạng sử dụng chúng. Phương pháp truyền thống để đánh giá sự biến động về đất đai là phương pháp đo đạc ngoài thực địa nhưng phương pháp này tốn nhiều công sức và thời gian. Xu hướng của thế giới hiện nay là dựa trên kết quả xử lý ảnh hàng không hoặc ảnh vệ tinh để thực hiện giám sát tình trạng bề mặt trái đất nhằm đánh giá sự biến động đất đai. Nội dung bài báo giới thiệu quy trình phát hiện biến động đất đai phục vụ cho công tác quản lý đất đai bằng công nghệ bay chụp ảnh từ thiết bị bay không người lái (UAV).

Ứng dụng wavelet để chiết xuất điểm đặc trưng phục vụ đồng đăng ký ảnh SAR
Trần Thanh Hà
Trường Đại học Mỏ - Địa Chất
Tóm tắt:
Việc lựa chọn tập hợp các điểm khớp là một trong những bước quan trọng của quá trình đồng đăng kí ảnh SAR. Những phần mềm xử lý ảnh thương mại hiện nay cho phép việc lựa chọn các điểm khớp dựa vào các điểm mắt lưới. Điều đó có nghĩa là khoảng các giữa các điểm khớp phụ thuộc vào việc thiết lập khoảng cách mắt lưới. Như vậy, tính tương quan của các điểm khớp sẽ bị giảm do đó sẽ ảnh hưởng đến độ chính xác của quá trình đồng đăng ký ảnh. Tuy nhiên, độ chính xác này có thể được nâng cao bằng cách tìm ra những điểm đặc trưng trên ảnh để sử dụng làm điểm khớp, và độ chính xác khi xây dựng DSM sẽ đáng tin cậy hơn. Bài báo trình bày một trong những phương pháp có thể được sử dụng để tìm ra điểm đặc trưng, phương pháp wavelet.

Ứng dụng phương pháp mô hình hóa và thể hiện bản đồ trong đánh giá tác động biến đổi khí hậu để đề xuất kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu quy mô cấp huyện
Nguyễn Trọng Trường Sơn
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội
Tóm tắt:
Việt Nam là nước đang phát triển, 11% dân số nghèo và cận nghèo nằm trong số của khoảng 70% dân số là nông nghiệp; là nước thứ 5 thế giới chịu tác động nặng nề do thiên tai và biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH  mới chỉ dừng lại ở quy mô cấp tỉnh, các yếu tố khí hậu và tác động của biến đổi khí hậu như hạn hán, lũ, sạt lở đất…đã tác động trực tiếp tới tài nguyên, sản xuất và cộng đồng dân cư  trên địa bàn tỉnh. Do vậy, để có cơ sở triển khai công tác quản lý nhà nước ở địa phương  thì việc “Đánh giá tác động biến đổi khí hậu và đề xuất kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH)” ở quy mô cấp huyện được xem là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của định hướng trong giai đoạn hiện nay, nhằm hỗ trợ nhà quản lý trong công tác ra các quyết định, công tác quản lý môi trường và hướng đến nền sản xuất nông nghiệp bền vững.

Ứng dụng phương trình mất đất phổ dụng và kỹ thuật GIS thành lập bản đồ xói mòn đất tỉnh Gia Lai
Lưu Thế Anh
Viện Địa lý, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Tóm tắt:
Xói mòn đất do nước mưa đã trở thành vấn đề môi trường trên phạm vi toàn cầu do ảnh hưởng của nó đến môi trường sinh thái, sức sản xuất của đất và năng suất cây trồng. Bảo vệ đất khỏi xói mòn là một trong những yêu cầu đối với công tác quản lý đất, đặc biệt ở các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, những nơi có độ dốc địa hình lớn, lượng mưa tập trung và thảm phủ thực vật thưa thớt. Việc đánh giá định lượng xói mòn và thành lập bản đồ xói mòn đất, cũng như các tác động trực tiếp và gián tiếp của quá trình xói mòn đến môi trường sinh thái của các khu vực là rất cần thiết. Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều mô hình đánh giá xói mòn đất được phát triển. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và kỹ thuật GIS, việc mô phỏng các quá trình vận chuyển, lắng đọng vật liệu bị xói mòn và đánh giá lượng đất tổn thất do xói mòn theo theo thời gian và thể hiện trên không gian lãnh thổ được thực hiện dễ dàng và có độ chính xác cao. Bài báo này trình bày kết quả đánh giá định lượng và thành lập bản đồ xói mòn đất của tỉnh Gia Lai bằng Phương trình mất đất phổ dụng (USLE) với sự hỗ trợ của kỹ thuật GIS.

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu ảnh máy bay không người lái (UAV) trong thành lập bản đồ địa hình tỷ lệ lớn
Mai Văn Sỹ(1) Bùi Ngọc Quý(2), Phạm Văn Hiệp(2), Lê Đình Quý(2)
(1) Công ty cổ phần tư vấn thiết kế công trình xây dựng Hải Phòng
(2) Trường Đại học Mỏ - Địa chất
Tóm tắt:
Công nghệ chụp ảnh từ các thiết bị bay không người lái đã và đang được quan tâm nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực trong đó có công tác thành lập bản đồ địa hình. Bài báo giới thiệu kết quả nghiên cứu sử dụng dữ liệu ảnh chụp từ thiết bị bay không người lái (UAV) trong công tác thành lập mảnh bản đồ địa hình F-48-80-(9-f-III) tỷ lệ 1: 1000 khu vực xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.

Xây dựng cơ sở dữ liệu địa giới từ hồ sơ địa giới hành chính
Phan Thị Nguyệt Quế, Đinh Thị Hường 
Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam
Tóm tắt:
Phân định và quản lý địa giới hành chính là một trong những nhiệm vụ của công tác quản lý nhà nước về lãnh thổ. Lập bộ hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính và xây dựng cơ sở dữ liệu về địa giới hành chính một cách khoa học, đầy đủ, chính xác, pháp lý và thống nhất là điều cần thiết. Bài báo này nêu kết quả thử nghiệm xây dựng cơ sở dữ liệu về địa giới hành chính từ hồ sơ địa giới hành chính.