Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ: Tóm tắt số 35 (tháng 3 / 2018)

Cập nhật : 17/09/2018
Lượt xem: 73

Cơ sở khoa học của việc xác định các giá trị dị thường RMT ở các khu vực rừng núi Việt Nam


Tác giả:    HÀ MINH HOÀ - Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

Tóm tắt

Bài báo khoa học này đã luận chứng cho việc sử dụng dị thường RTM để xây dựng CSDL dị thường trọng lực quốc gia đối với đất nước có 3/4 diện tích là các khu vực đồi núi cao như Việt Nam. Bài báo đã chứng minh được rằng khi các hiệu độ cao giữa mặt địa hình thực và mặt địa hình trung bình lớn hơn 23,244 m, các dị thường Faye sẽ chứa trong mình các sai số hệ thống lớn được gây ra bởi các khối lượng vật chất dư thừa nằm giữa mặt địahình thực và mặt địa hình trung bình, thêm vào đó các khối lượng vật chất dư thừa đặc trưng cho sự tác động của các sóng geoid với các bước sóng trung. Khi nhận mô hình số độ cao độ phân giải 3” x 3” làm mặt địa hình thực và mô hình số độcao độ phân giải 5’ x 5’ làm mặt địa hình trung bình, các kết quả nghiên cứutrên các điểm thuộc  các khu vực rừng núihiểm trở từ vùng Tây Bắc dọc theo dãy Trường Sơn cho đến Bắc Tây nguyên trên lãnh thổ Việt Nam có các độ cao lớn hơn 2 km cho thấy các hiệu độ cao giữa mặt địa hình thực và mặt địa hình trung bình đều lớn hơn 23,244 m, thậm trí còn đạt đến vài trăm mét. Điều này cho thấy ở Việt Nam phải sử dụng dị thường RTM đểxây dựng CSDL dị thường trọng lực quốc gia. Ngoài ra, trong bài báo đã đưa ra công thức hoàn thiện để tính toán các số hiệu chỉnh RTM.

 Ảnh hưởng của nhiệt độ, độ mặn tới sự thay đổi vận tốc âm tại khu vực Vịnh Bắc Bộ                   

Tác giả:    NGUYỄN VĂN CƯƠNG - Trung tâm Trắc địa và Bản đồ Biển 
                 NGUYỄN GIA TRỌNG  - Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Tóm tắt

Vận tốc âm thanh trong nước biển phụ thuộc vào nhiệt độ (T), độ mặn (S) và áp suất P (hay độ sâu D) và thay đổi theo từng mùa trong năm đối với một vùng biển rộng. Nội dung bài báo trình bày kết quả khảo sát xác định vận tốc âm tại một số vị trí thuộc vùng biển Vịnh Bắc Bộ với dữ liệu đo nhiệt độ và độ mặn ở các độ sâu từ 0m đến 70m trong khoảng thời gian từ 01/01/2006 đến 01/12/2006. Kết quả khảo sát cho thấy mức độ biến thiên của vận tốc âm trong thời gian một năm tại khu vực Vịnh Bắc Bộ có thể lên tới 27.2m/s. Đây là điều cần lưu ý trong công tác xác định vận tốc âm khi triển khai đo đạc bằng các thiết bị thủy âm ở Vịnh Bắc Bộ.

Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác trắc địa thi công nhà siêu cao tầng ở Việt Nam                       

  Tác giả:    DIÊMCÔNG TRANG -  Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng
                   PHẠM THANH THẠO - Trường Đại học Mỏ - Địa chất
                   LẠI NAM THÁI - Viện Khoa học Công nghệXây dựng

  Tóm tắt

Trong những năm gần đây các dự án xây dựng các công trình nhà siêu cao tầng được triển khai rộng rãi tại Hà Nội,Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố lớn trên cả nước. Đặc điểm của công trình xây dựng nhà siêu cao tầng là có diện tích thi công chật hẹp, độ cao lớn,các yếu tố như gió và nhiệt độ tác động sẽ làm cho độ thẳng đứng của công trình không được đảm bảo. Để đảm bảo đúng yêu cầu kỹ thuật công tác trắc địa thi công xây dựng nhà siêu cao tầng đảm bảo độ thẳng đứng của công trình là hết sức cần thiết. Bài báo trình bầy một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác trắc địa thi công xây dựng nhà siêu cao tầng ở Việt Nam.

Ứng dụng công nghệ viễn thám và GIS nghiên cứu vật liệu cháy trong các kiểu rừng phục vụ công tác phòng chống cháy rừng tại tỉnh Bắc Giang.

Tácgiả:      PHẠM MINH HẢI - Viện Khoa học Đo đạcvà Bản đồ
                 VŨ NGỌC PHAN - Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

Tóm tắt

Cháy rừng đã gây nên những hậu quả tiêu cực lớn đến môi trường sống, nguồn tài nguyên thiên nhiên và con người. Biến đổi khí hậu với những đợt nóng hạn kéo dài bất thường đã làm cho cháy rừng trở thành thảm hoạ ngày càng nghiêm trọng. Các công trình nghiên cứu về công tác phòng chống cháy rừng tại Việt Nam cho thấy công tác dự báo phòng chống cháy rừng hiện nay còn tồn tại một số hạn chế, chủ yếu sử dụng dữ liệu khí tượng mặt đất,việc sử dụng ảnh viễn thám trong dự báo cấp cháy rừng chỉ đến cấp tỉnh, chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào nghiên cứu ảnh hưởng của vật liệu cháy cũng như hệ số cháy của chúng đến các hiện tượng cháy rừng. Việc phát triển một giải pháp mới ứng dụng viễn thám nghiên cứu về vật liệu cháy phục vụ công tác dự báo nguy cơ cháy rừng đóng vai trò cấp thiết cao, trợ giúp hiệu quả cho công tác phòng chống cháy rừng của cơ quan chuyên trách tại địa phương. Địa điểm thử nghiệm của nghiên cứu là huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang với hai loại hình rừng là rừng trồng và rừng tự nhiên.

Nghiên cứu phương pháp phân loại hướng đối tượng trên tư liệu ảnh máy bay không người lái

Tácgiả:   LÊ VŨ HỒNG HẢI -  Học viện Kỹ thuật Quân sự
                      ĐỖ THỊ HOÀI -  Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ
                      VŨ KỲ LONG -  Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

Tóm tắt

Hệ thống máy bay không người lái (UAVs - Unmanned Aerial Vehicle system) thu thập thông tin ở tầm thấp nên tư liệu ảnh UAV cho phép quan sát rõ đặc tính của vật thể và phục vụ giải đoán bằng mắt.Tư liệu viễn thám từ hệ thống UAV thiếu các thông tin về phổ nhưng lại nhiều thông tin về hình dạng và cấu trúc của đối tượng. Tuy nhiên hiện còn ít các nghiên cứu phân tích thông tin bề mặt mặt đất từ ảnh hàng không hay ảnh UAV do phương pháp phân loại dựa trên giá trị pixel cho kết quả thấp. Trong nội dung bài báo, tác giả trình bày kết quả nghiên cứu phương pháp phân loại hướng đối tượng bằng phần mềm eCognition 9.0 trên tư liệu ảnh UAV với độ phân giải 40cm.Phương pháp phân loại hướng đối tượng cho phép tách được các đối tượng trên ảnh độ phân giải siêu cao dựa trên những đặc điểm hình dạng đặc trưng với độ chính xác cao.

Công nghệ quét sườn SIDE SCAN SONAS và ứng dụng trong khảo sát, thăm dò đáy biển

Tácgiả:   DƯƠNGVÂN PHONG -  Trường Đại học Mỏ - Địa chất
              KHƯƠNG VĂN LONG -  Đoàn Đo đạc Biên vẽ hải đồ và Nghiên cứu biển

Tóm tắt

Khảo sát thăm dò đáy biển là một lĩnh vực rất rộng, đòi hỏi đầu tư rất lớn về phương tiện, trang bị và con người. Để thu thập được các yếu tố trong nước biển, bề mặt đáy biển và phía dưới bề mặt đáy biển chúng ta đã có những trang bị rất hiện đại như các loại thiết bị thu thập dữ liệu các yếu tố hải dương, hệ thống đo sâu đa tia, hệ thống quét biển Side Scan Sonar, hệ thống khảo sát từ trường, địa chấn, trọng lực,... Mỗi hệ thống đều có chức năng, nguyên lý hoạt động và mục đích sử dụng khác nhau. Bài báo này giới thiệu về hệ thống quét biển Side Scan Sonar và ứng dụng trong khảo sát, thăm dò đáy biển.

Nghiên cứu thành lập bản đồ trường nhiệt mặt biển vùng biển tây nam Việt Nam bằng dữ liệu viễn thám GIS

 Tác giả:  TRẦN THỊ TÂM  - Viện Khoa học Khí tượng Thuỷ văn và Biến đổi Khí hậu
TRẦN ANH TUẤN - Viện Địa chất và Địa Vật lý Biển - Viện Hàn lâm KH và Công nghệ VN
      LÊ ĐÌNH NAM - Viện Địa chất và Địa Vật lý Biển- Viện Hàn lâm KH và Công nghệ VN
NGUYỄN THÙY LINH - Viện Địa chất và Địa Vật lý Biển - Viện Hàn lâm KH và Công nghệ VN
       ĐỖ NGỌC THỰC - Viện Địa chất và Địa Vật lý Biển- Viện Hàn lâm KH và Công nghệ VN

Tóm tắt

Ứng dụng viễn thám trong ước tính trường nhiệt độ mặt biển (SST - Sea Surface Temprature) là một trong những hướng nghiên cứu có tính ứng dụng cao. Các đầu thu thế hệ mới như MODIS, MERIS... đặt trên các vệ tinh có thể quan trắc và cung cấp một khối lượng lớn thông tin bề mặt Trái đất với phạm vi lớn, độ phân giải thời gian cao đã cho phép nghiên cứu trường nhiệt mặt biển trên cả hai góc độ đa phổ và đa thời gian. Kết quả nghiên cứu của bài báo tập trung vào việc sử dụng ảnh MODIS tổ hợp 8 ngày để ước tính trường nhiệt mặt biển ở vùng biển Tây nam Việt Nam cho hai mùa gió: mùa gió đông bắc tính từ tháng XI đến hết tháng IV năm sau và mùa gió tây nam tính từ tháng V đến tháng X. Thuật toán được sử dụng để tính toán trường nhiệt mặt biển trong nghiên cứu này đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu trước đây. Dữ liệu đo đạc nhiệt độ bề mặt ở khu vực nghiên cứu vào các ngày 5,7 và 8 tháng 4 năm 2017 được sử dụng để đánh giá tương quan với kết quả tính toán từ ảnh vệ tinh thu nhận vào các ngày tương ứng. Các kết quả đánh giá cho thấy có sự tương quan khá tốt giữa giá trị tính toán so với giá trị thực đo, hệ số tương quan bình phương (R2) của các ngày được đánh giá tương ứng cho các ngày đo đạc là 0.807, 0.8179 và 0.8197. Các bản đồ kết quả cũng phản ảnh đúng quy luật phân bố trường nhiệt mặt biển ở khu vực nghiên cứu vào cả hai mùa gió.

Khái niệm và đề xuất tiêu chí xác định chuyên gia khoa học và công nghệ nghành Tài nguyên và Môi trường

Tácgiả:    NGUYỄN MẠNH DŨNG - Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ
                 LƯU THỊ THUÝ NGỌC -  Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ
                     TRƯƠNG THỊ HOÀ  -  Vụ Khoa học và Công nghệ - Bộ Tài nguyên và Môi trường

Tóm tắt

Bài viết giới thiệu kết quả của nội dung nghiên cứu thuộc đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ “Nghiên cứu cơ sở khoa học xây dựng hệ thống tiêu chí xác định chuyên gia, cán bộ khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực tài nguyên và môi trường” do Viện Khoa học Đo đạcvà Bản đồ chủ trì.