Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ : Tóm tắt số 44 ( tháng 6/2020)

Cập nhật : 20/07/2020
Lượt xem: 239

TÍNH DỊ THƯỜNG ĐỊA HÌNH – ĐĂNG TĨNH KHI XÂY DỰNG CƠ SỞ DỊ THƯỜNG TRỌNG LỰC Ở VÙNG NÚI CAO

Hà Minh Hòa – Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

Tóm tắt:
Chúng ta thường sử dụng dị thường Bouger để giải quyết bài toán nội suy các giá trị dị thường trọng lực vào grid của cơ sở dữ liệu trọng lực quốc gia.  Điều kiện để sử dụng là các giá trị dị thường Bouguer phải thay đổi tương đối đồng đều và ma trận hiệp phương sai của nó là tuyến tính bậc nhất. Tuy nhiên ở các khu vực rừng núi cao (trên 1500 m), do hiệu ứng bù trừ đẳng tĩnh, các giá trị dị thường Bouger biến thiên đột ngột, không đảm bảo sự thay đổi tương đối đồng đều. Do đó trong trường hợp này chúng ta phải sử dụng các giá trị dị thường địa hình – đẳng tĩnh. Trong bài báo khoa học này, chúng ta sẽ phân tích ý nghĩa của dị thường địa hình – đẳng tĩnh.

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG TÁC KHAI THÁC CÁT, SỎI ĐẾN BIẾN ĐỘNG ĐƯỜNG BỜ SÔNG CHU (ĐOẠN CHẢY QUA HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA) BẰNG DỮ LIỆU VIỄN THÁM

                                                     

Vương Trọng Kha - Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Trịnh Lê Hùng – Học viện Kỹ thuật quân sự

Hoàng Ngọc Huy – Cục Đo đạc Bản đồ và Thông tin Địa lý Việt Nam

Tóm tắt:

Trong những năm gần đây, tình trạng khai thác cát, sỏi tràn lan và thiếu quy hoạch dẫn đến sự lạt lở nghiêm trọng đường bờ các sông lớn ở Việt Nam. Bài báo này trình bày kết quả đánh giá biến động đường bờ sông Chu, đoạn chảy qua huyện Thọ Xuân (tỉnh Thanh Hóa) giai đoạn 2015 – 2020 từ dữ liệu viễn thám. 02 cảnh ảnh vệ tinh Sentinel-2A chụp ngày 01/12/2015và 09/03/2020 được sử dụng để xác định ranh giới nước - đất liền trên cơ sở chỉ số tự động tách nước AWEI, sau đó chồng xếp để phát hiện biến động đường bờ sông. Kết quả nhận được cho thấy, trong giai đoạn từ 2015 đến 2020, đường bờ sông Chu có sự biến động rất phức tạp, trong đó ghi nhận cả quá trình xói lở và bồi tụ. Tốc độ xói lở lớn nhất lên đến 37m/năm ở trung tâm khu vực nghiên cứu, nơi tập trung các tàu hút cát, sỏi. Kết quả nhận được trong nghiên cứu có thể cung cấp thông tin giúp các nhà quản lý trong theo dõi, giám sát diễn biến sạt lở đường bờ sông Chu,làm cơ sở để đánh giá ảnh hưởng của quá trình khai thác khoáng sản đến đường bờ sông.


NGHIÊN CỨU NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐO ĐẠC, XỬ LÝ SỐ LIỆU TRẮC ĐỊA TRONG THI CÔNG XÂY DỰNG NHÀ SIÊU CAO TẦNG

Trần Viết Tuấn, Dương Thành Trung – Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Diêm Công Trang – Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng

Tóm tắt:

Nội dung của bài báo trình bày kết quả nghiên cứu xây dựng thuật toán và chương trình máy tính nhằm nâng cao hiệu quả công tác đo đạc và xử lý số liệu trắc địa phục vụ thi công xây dựng công trình nhà siêu cao tầng.Kết quả đo đạc và xử lý số liệu thực nghiệm nhằm đánh giá khả năng ứng dụng và độ chính xác đạt được của phần mềm super HBDV1.0 khi bố trí thi công xây dựng nhà cao tầng và siêu cao tầng ở Việt Nam.


QUY CHIẾU TRỊ ĐO SÂU ĐỊA HÌNH ĐÁY BIỂN DỰA TRÊN MÔ HÌNH TÍNH TOÁN THỦY TRIỀU VÀ CÁC MÔ HÌNH MẶT BIỂN

Nguyến Thị Hồng – Trường Đại học Hằng hải Việt Nam     

Nguyễn Thanh Trang – Trung tâm Hải văn, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam

Lương Thanh Thạch – Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội

Nguyễn An Định – Công ty TNHH MTV Trắc địa Bản đồ

Trần Văn Hải – Xí nghiệp Trắc địa , Công ty TNHHMTV Trắc địa Bản đồ

Đỗ Văn Mong – Đoàn Đo đạc Biên vẽ hải đồ và Nghiên cứu biển

Tóm tắt:

Bài báo khoa học này trình bày phương pháp sử dụng mô hình tính toán thủy triều MIKE21 FD để hiệu chỉnh thủy triều trong quy chiếu trị đo sâu địa hình đáy biển dựa trên mô hình mặt biển trung bình khu vực (MBTBKV98) và mô hình mặt biển thấp nhất khu vực (MBTNKV170) được công bố trong tài liệu [6]. Kết quả đánh giá độ chính xác hiệu độ sâu quy chiếu dựa trên mực nước quan trắc tại trạm nghiệm triều tạm thời ven bờ và mô hình tính toán thủy triều khu vực biển Hải Phòng đạt 0.034m; hiệu độ sâu quy chiếu dựa trên mực nước quan trắc tại trạm nghiệm triều và dựa trên mô hình MBTBKV98 kết hợp số liệu triều mô hình đạt 0.041 m, còn hiệu độ sâu quy chiếu dựa trên mặt biển thấp nhất tại trạm nghiệm triều và dựa trên mô hình MBTNKV170 kết hợp số liệu triều mô hình đạt 0.047m. Điều này cho thấy sử dụng mô hình tính toán thủy triều MIKE21 FD để hiệu chỉnh thủy triều trong quy chiếu các trị đo sâu địa hình đáy biển dựa trên các mô hình mặt biển hoàn toàn đáp ứng yêu cầu thành lập bản đồ địa hình đáy biển và hải đồ ở các dãy tỷ lệ trung bình và nhỏ hơn trên vùng biển Việt Nam.


THÀNH LẬP BẢN ĐỒ NHANH BẢN ĐỒ LŨ BẰNGCHỈ SỐ LŨ KHÁC BIỆT CHUẨN HÓA NDFI VÀ CHỈ SỐ KHÁC BIỆT LŨ TRONG VÙNG THỰC VẬT THẤP NDFVI SỬ DỤNG LỢI THẾ CỦA HỆ THỐNG VIETNAM DATA CUBE

Lê Thị Thu Hằng, Vũ Anh Tuân, Nguyễn Hồng Quảng - Trung tâm Vũ trụ Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Phạm Minh Hải– Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ.

Tóm tắt:

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, việc có được một bản đồ lũ kịp thời và chính xác ngay khi thiên tai là thực sự cần thiết trong việc lập kế hoạch quản lý khẩn cấp nhằm giảm thiểu rủi ro thiên tai một cách hiệu quả.Nghiên cứu áp dụng một phương pháp lập bản đồ lũ lụt nhanh dựa trên hai chỉ số khác biệt lũ chuẩn hóa (NDFI – Normalized Difference Flood Index) và chỉ số khác biệt lũ trong vùng thực vật thấp (NDFVI - Normalized Difference Flood inshort Vegetation Index) từ chuỗi dữ liệu của ảnh Radar khẩu độ tổng hợp (SAR –Synthetic Aperture  Radar) Sentinel-1.Hai chỉ số này được tính toán, trên các cảnh ảnh trước lũ và trong lúc có lũ, từ đó lập bản đồ các khu vực ngập nước lũ và các khu vực có nước ngập thảm thực vật thấp bằng phương pháp phân ngưỡng. Dữ liệu SAR băng tần C của vệ tinhSentinel-1 được sử dụng trong nghiên cứu này do đây là nguồn dữ liệu miễn phívà có tần suất chụp ảnh khá tốt (12 ngày). Tuy vậy, phương pháp cũng có thể được áp dụng cho tất cả các dữ liệu vệ tinh SAR băng C khác để tăng cao tần suất quan sát, một điều rất cần thiết trong theo dõi lũ. Áp dụng phương pháp trên khu vực thử nghiệm tỉnh Đồng Tháp năm 2018 cho thấy có độ tin cậy cao và hiệu quả của phương pháp qua việc đánh giá, so sánh với dữ liệu thực địa gồm143 điểm. Hiện nay, toàn bộ ảnh Sentinel-1 đã được thu thập và liên tục cập nhật trong hệ thống Vietnam Data Cube do Trung tâm Vũ trụ Việt Nam vận hành cho phép áp dụng phương pháp trên toàn lãnh thổ Việt Nam.


NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HIỆU CHỈNH PHẢN XẠ PHỔ TRÊN ẢNH VỆ TINH KHI KẾT HỢP SỬ DỤNG DỮ LIỆU ẢNH LANDSAT 8 VÀ SENTINEL 2

Hoàng Minh Hải, Kiều Thị Thảo – Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

Hoàng Ngọc Huy – Cục Đo đạc Bản đồ và Thông tin Địa lý Việt Nam

Vương Trọng Kha – Đại học Mỏ - Địa chất              

Tóm tắt:

Hiện nay, trên thế giới cũng như ở Việt Nam việc sử dụng dữ liệu ảnh vệ tinh đa thời gian để tăng hiệu suất cập nhật dữ liệu đã và đang được thực hiện một cách phổ biến. Tuy nhiên, để chiết tách một cách chính xác thông tin đang nghiên cứu từ nhiều nguồn ảnh đa thời gian khác nhau thì điều kiện tiên quyết cần phải thực hiện đó là chuẩn hóa giá trị phản xạ phổ nhằm giảm thiểu các tác nhân của sự thay đổi giá trị phản xạ từ ảnh vệ tinh đa thời gian gây ảnh hưởng tới việc phát hiện biến đổi giá trị của các pixcel trên ảnh vệ tinh. Hai phương pháp chuẩnhóa giá trị phản xạ phổ là tuyệt đối và tương đối thường được áp dụng trong chuẩnhóa ảnh viễn thám để hiệu chỉnh các hình ảnh vệ tinh được chụp từ các thời điểm khác nhau và các vệ tinh khác nhau. Bài báo trình bày phương pháp phát hiện biến đổi đa biến IRMAD, một trong những phương pháp chuẩn hóa phản xạ phổ tương đối ưu việt so với vác phương pháp phát hiện biến đổi truyền thống trước đây vì nó bất biến đối với các phép biến đổi tuyến tính của cường độ ảnh gốc, không nhạy cảm với sự khác biệt. Do đó, phương pháp phát hiện biến đổi đa biến IRMAD đã được nghiên cứu rộng rãi từ các khía cạnh về lý thuyết và thực nghiệm trong những năm gần đây


XÂY DỰNG CÔNG CỤ CẢI THIỆN ĐỘ CHÍNH XÁC CỦA BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH CŨ

Trương Song Hòa, Nguyễn Mạnh Dũng – Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

Nguyễn Văn Hiệp – Trung tâm Dữ liệu và Thông tin Đất đai, Tổng cục Quản lý đất đai

Tóm tắt :

Trong bài báo giới thiệu giải pháp nhằm cải thiện độ chính xác về không gian của bản đồ địa chính cũ, đã được đo vẽ thành lập trước những năm 2009 theo các quy phạm cũ. Từ việc phân tích các yếu tố tác động đến độ chính xác của bản đồ địa chính cũ so với yêu cầu hiện nay, để nhân thấy mức độ hạn chế theo từng khu vực đo vẽ trong mỗi đơn vị hành chính cấp xã/phường, từ đó đề ra thuật toán cải thiện, giải pháp nâng cao độ chính xác của từng khu vực đo vẽ và của xã/phường nói chung dựa trên các điểm khống chế song trùng, từ đó tạo cơ sở cho lập trình Modul phần mềm VPAI chạy trên nền MicroStation có chức cải thiện độ chính xác không gian. Dữ liệu được cải thiện sẽ đồng nhất hơn với dữ liệu địa chính được đo vẽ trong những năm gần đây, đảm bảo cho việc xây dựng CSDL đất đai. Bài báo là kết quả nghiên cứu của đề tài cấp cơ sở “Nghiên cứu đề xuất giải pháp kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng của bản đồ địa chính cũ đáp ứng yêu cầu xây dựng CSDL đất đai trong giai đoạn hiện nay”.


GIẢI PHÁP THÀNH LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH TỪ DỮ LIỆU UAV VÙNG CÓ PHỦ THỰC VẬT

Hoàng Thị Thủy, Đinh Công Hòa – Đại học Mỏ - Địa chất   

Tóm tắt           

Việc ứng dụng công nghệ bay chụp bằng máy bay không người lái trong công tác xây dựng mô hình số bề mặt và bản đồ địa hình đã được thực hiện trong một số nghiên cứu. Tuy vậy,chưa có nghiên cứu đầy đủ và hệ thống về độ chính xác và giải pháp nâng cao độ chính xác, đặc biệt khi địa hình có thực vật che phủ. Trong nội dung nghiên cứu này, tác giả đề xuất giải pháp hiệu chỉnh mô hình phủ thực vật (DSM) đối với dữ liệu ảnh máy bay không người lái (UAV), dựa vào các điểm kiểm tra đo bằng công nghệ GPS động RTK (CORS) trong thành lập bản đồ địa hình. Kết quả nghiên cứu là phần mềm tự động hiệu chỉnh độ cao điểm đo ảnh trên bề mặt lớp phủ thực vật về độ cao điểm địa hình. Số liệu thực nghiệm đã minh chứng tính chính xác của thuật toán.


ỨNG DỤNG MẠNG NƠ -  RON NHÂN TẠO ĐA LỚP TRONG THÀNH LẬP MÔ HÌNH PHÂN VÙNG LŨ QUYẾT KHU VỰC MIỀN NÚI TÂY BẮC, THỰC NGHIỆM TẠI TỈNH YÊN BÁI

Nguyễn Viết Nghĩa – Trường Đại học Mỏ - Địa chất

Nguyễn Cao Cường – Liên đoàn Địa chất Tây Bắc

Tóm tắt:

Lũ quét là một hiện tượng tự nhiên nguy hiểm xảy ra hầu khắp các lưu vực sông suối khu vực miền núi trên thế giới cũng như ở Việt Nam, trong đó khu vực Tây Bắc Việt Nam là một điểm nóng về tiểm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra lũ quét. Bằng việc ứng dụng mạng nơ-ron nhân tạo đa lớp trong thành lập mô hình phân vùng lũ quét, thực nghiệm tại tỉnh Yên Bái đã cho phép thành lập được mô hình phân vùng lũ quét độ chính xác cao với các chỉ số thống kê ROC = 0.960 và giá trị AUC = 0.951. Phương pháp ứng dụng mạng lưới nơ-ron nhân tạo đa lớp cho phép mở rộng xây dựng các bản đồ phân vùng lũ quét tại nhiều khu vực trong cả nước, đóng góp tích cực vào việc hoạch định và kiện toàn hệ thống các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu