Tạp chí Khoa học Đo đạc và Bản đồ : Tóm tắt số 45 ( tháng 9/2020)

Cập nhật : 26/09/2020
Lượt xem: 157

ỨNG DỤNG “MACHINE LEAMING” TRONG TÁI TẠO KÊNH PHỔ TRÊN ẢNH VIỄN THÁM

Phạm Minh Hải  - Viện Khoa học Đo đạc và Bản Đồ

Nguyễn Ngọc Quang – Cục Viễn thám Quốc gia

Tóm tắt:

Lỗi kênh ảnh trong quá trình thu nhận ảnh viễn thám xảy ra thường xuyên và làm cản trở sự phát triển của công tác ứng dụng ảnh viễn thám. Tuy nhiên, chất lượng thu nhận dữ liệu ảnh chụp còn tồn tại một số vấn đề dẫn đến hiện tượng lỗi kênh ảnh, sọc kênh ảnh, mất kênh ảnh khiến ảnh thu được không thể thể hiện được tổng hợp đa phổ ba kênh RED-GREEN-BLUE(RGB). Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã phát triển một giải pháp khôi phục kênh ảnh của ảnh viễn thám dựa vào tương quan giữa các kênh còn lại. Nhóm tác giả sử dụng ngôn ngữ lập trình Python, trong đó có ứng dụng thuật toán hồi quy“Backward Elimination” để tính toán, phân tích, và xử lý dữ liệu.

                                                     

ĐỀ XUẤT QUI  ĐỊNH  KỸTHUẬT CÔNG TÁC BAY CHỤP ẢNH KHI SỬ DỤNG HỆ THỐNG TRẠM ĐỊNH VỊ VỆ TINH QUỐC GIA CORS)

Đào Ngọc Long – Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

Vương Trọng Kha – Trường Đại học Mỏ - Địa Chất

 

Tóm tắt:

Hiện nay, hệ thống trạm Cors tại Việt nam đã được xây dựng, việc nghiên cứu sử dụng các trạm này ứng dụng trong công tác bay chụp ảnh hàng không rất có ý nghĩa trong việc nâng cao hiệu quả công tác bay chụp, tính hiệu quả của việc đầu tư. Bài báo này trình bày qui định kỹ thuật công tác bay chụp ảnh khi sử dụng hệ thống trạm Cors để xác định các nguyên tố định hướng ngoài của ảnh phục vụ công tác thành lập bản đồ và xây dựng cơ sở dữ liệu địa lý

THÀNH LẬP BẢN ĐỒ HỆ SINH THÁI ĐẤT NGẬP NƯỚC TỶ LỆ 1:100.000 ĐỒNG THÁP MƯỜI TRÊN CƠ SỞ TIẾP CẬN CẢNH QUAN

Nguyễn Thanh Thủy – Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

Tóm tắt:

Bản đồ hệ sinh thái đất ngập nước (HSTĐNN) là dữ liệu đầu vào cho công tác đánh giá mức độ đa dạng sinh học, các chức năng, dịch vụ, các áp lực rủi ro mà hệ sinh thái phải đối diện; xác định các hệ sinh thái bị suy thoái, từ đó làm cơ sở xác định các hệ sinh thái cần ưu tiên bảo vệ, phục hồi. Bài báo trình bày phương pháp thành lập bản đồ hệ sinh thái đất ngập nước tỷ lệ 1:100.000 khu vực Đồng Tháp Mười phục vụ lập quy hoạch và quản lý đất ngập nước trong phạm vi cấp vùng, liên tỉnh trên cơ sở tiếp cận cảnh quan với các yếu tố cấu thành là địa chất, thổ nhưỡng, địa hình - địa mạo, khí hậu - khí tượng, thuỷ văn - hải văn, thảm thực vật và hiện trạng sử dụng đất.

                                                           

XÁC ĐỊNH MẶT BIỂN TRUNG BÌNH LÀM RANH GIỚI GIỮA ĐẤT LIỀN VÀ BIỂN PHỤC VỤ CÔNG TÁC ĐỊACHÍNH BIỂN

                                                                                                                                           

Hà Minh Hòa - Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

Tóm tắt:

Trong giai đoạn hiện nay, các địa phương thuộc các vùng đất thấp ngập mặn ven biển chủ yếu khai thác các vùng đất ngập mặn ven biển để nuôi trong thuy sản. Đối với công tác quản lý nhà nước về đất đai, việc xác định ranh giới giữa đất liền và biển, đặc biệt là các vùng đất ngập mặn có khả năng nuôi trồng thủy sản, trở nên rất quan trọng phục vụ công tác giao đất, cho thuê đất và phát triển công tác địa chính biển.

Vùng đất nằm dưới biển sâu nhất (khoảng – 2m) không thích hợp cho việc nuôi trồng thủy sản. Vậy mặt biển được sử dụng cho công tác địa chính biển là mặt như thế nào? Trong bài báo này tác giả sẽ tìm câu trả lời cho câu hỏi trên nhằm mục đích phát triển công tác địa chính biển.


CƠ SỞ CỦA VIỆC ĐỀ XUẤT DANH MỤC PHƯƠNG TIỆN ĐO ĐẠC BẢN ĐỒ CẦN KIỂM ĐỊNH Ở VIỆT NAM

Bùi Đăng Quang -  Cục Đo đạc, Bản đồ và Thông tin địa lý Việt Nam

Vũ Tiến Quang - Hội Trắc địa - Bản đồ và Viễn thám Việt Nam

Trong bài viết này đề cập đến việc kiểm định phương tiện đo đạc bản đồ ở Việt Nam – một vấn đề cần thiết nhưng chưa được thực hiện đầy đủ từ nhiều năm nay, đồng thời đưa ra đề xuất về danh mục phương tiện đo đạc bản đồ cần phải kiểm định trong thời gian tới nhằm tăng cường quản lý nhà nước về công tác kiểm định phương tiện đo theo hướng đã được quy định trong Luật Đo lường số: 04/2011/QH13 và Luật Đo đạc và bản đồ số: 27/2018/QH14.

NGHIÊN CỨU TÍNH TOÁN VÀ MÔ HÌNH HÓA SỰ PHÂN BỔ KHÔNG GIAN CỦA ĐỘ ẨM ĐẤT KHU VỰC BẮC TÂY NGUYÊN SỬ DỤNG ẢNH SENTINEL 2A

Ngô Thị Dinh - Viện Quản lý đất đai và Phát triển Nông thôn, Trường Đại học Lâm nghiệp

Phạm Quang Vinh - Viện Địa Lý, Viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Nguyễn Thị Thu Hà - Khoa Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên

Tóm tắt:

Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng ảnh vệ tinh độ phân giải cao Sentinel 2A vào tính toán độ ẩm đất bề mặt khu vực Bắc Tây Nguyên thông qua lựa chọn thông số phù hợp và xây dựng được một phương trình tính toán độ ẩm đất từ dữ liệu ảnh. Tám mẫu đất bề mặt đại diện cho sáu kiểu đất trong vùng được thu thập và đưa về 10 mức độ ẩm khác nhau cho mỗi mẫu rồi đo phổ bề mặt để từ đó xác định tỷ số kênh phổ phù hợp và xây dựng phương trình tính toán độ ẩm đất. Kết quả cho thấy, độ ẩm đất có tương quan cao với tỷ số kênh 8 (cận hồng ngoại, 865 nm) và kênh 12 (hồng ngoại sóng ngắn, 2190 nm) của ảnh và có thể tính toán từ tỷ số hai kênh này bằng phương trình hàm logarith (R2 = 0,65). Áp dụng thử nghiệm phương trình vào ảnhS2A thu vào tháng 3 các năm 2016 đến 2020 cho thấy hạn hán năm 2016 xảy ra mạnh hơn các năm còn lại, không gian của vùng có độ ẩm đất < 25 % chiếm đến 1/3 diện tích đất tự nhiên của vùng, tuy nhiên cần có những nghiên cứu sâu hơn để dự báo được độ ẩm đất của các vùng cây trồng để có phương án chủ động chống hạn.


TÍCH HỢP THIẾT BỊ IMU VÀ GNSS THU NHẬN DỮ LIỆU SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ TRẠM THAM CHIẾU ẢO (VRS) TRÊNTHIẾT BỊ BAY KHÔNG NGƯỜI LÁI (UAV) PHỤC VỤ CÔNG TÁC THÀNH LẬP BẢN ĐỒ ĐỊA HÌNH.

Lưu Hải Âu, Đặng Xuân Thủy, Ngô Thị Liên - Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ

                                                            

Tóm tắt:

Công tác thành lập bản đồ địa hình ứng dụng thiết bị bay không người lái (UAV) đã được ứng dụng và đang dần trở lên phổ biến. Việc xác định chính xác các yếu tố định hướng ngoài của ảnh là một trong những yếu tố quyết định đến độ chính xác của bản đồ địa hình cần thành lập thay vì thiết lập mạng lưới khống chế ảnh. Bài báo này trình bày về vấn đề tích hợp thiết bị GNSS/IMU trên thiết bị bay không người lái (UAV) kết hợp với công nghệ trạm tham chiếu ảo (VRS) để xác định các yếu tố định hướng ngoài của ảnh với độ chính xác đảm bảo thành lập bản đồ địa hình tỉ lệ lớn với số lượng điểm khống chế ảnh giảm tối đa.

XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ NHIỄM MẶN TẦNG ĐẤT MẶT CANH TÁC NÔNG NGHIỆP Ở MỘT SỐ VÙNG GẦN CỬA SÔNG VEN BIỂN HẢI PHÒNG – THÁI BÌNH BẰNG ẢNH VIỄN THÁM

Lê Thị Thu Hiền, Nguyễn Thanh Bình - Viện Địa lý, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Phạm Minh Hải - Viện Khoa học Đo đạc và Bản đồ 

Tóm tắt:

Trong nhiều năm gần đây, tính phức tạp của dòng chảy ở hạ du về mùa cạn, cộng với nhu cầu dùng nước của các ngành kinh tế tăng cao… đã dẫn đến tình trạng nhiễm mặn tại một số vùng ven biển ở đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) ngày một lớn. Nghiên cứu này đánh giá độ mặn của đất ở vùng đồng bằng cửa sông ven biển cửa các sông Văn Úc, sông Thái Bình và sông Trà Lý sử dụng tư liệu Sentinel 2A. Dữ liệu Sentinel 2A được sử dụng để triết tách các chỉ số, bao gồm các kênh phổ đơn, chỉ số VSSI, chỉ số SAVI, chỉ số NDVI và chỉ số NDSI. Các phân tích thống kê giữa độ dẫn điện (EC1:5, dS/m) và các chỉ số đã được thực hiện. Kết quả chỉ ra rằng các giá trị phổ của dải hồng ngoại gần NIR và chỉ số VSSI tương quan tốt với EC1:5 ( với hệ số tương quan tương ứng là 0,75 và 0,63). Kết quả so sánh cho thấy độ mặn của đất ước tính từ dữ liệu Sentinel 2A phù hợp với dữ liệu thực địa (với R2=0,74 và RMSE = 3,36 dS/m đối với kênh phổ NIR và R2 = 0,67 và RMSE =3,8 dS/m đối với chỉ số VSSI). Các kết quả của nghiên cứu này chứng minh rằng dữ liệu Sentinel 2A có tiềm năng cao trong việc giám sát độ mặn của lớp đất bề mặt. Kết quả của nghiên cứu hữu ích cho các hoạt động nông nghiệp, cung cấp thông tin quan trọng cho chính quyền và nông dân bằng cách lập bản đồ độ mặn của đất làm cơ sở lựa chọn tốt hơn các loại cây trồng để giảm tổn thất kinh tế trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

NGHIÊN CỨU NHẬN DẠNG CÁC CỰC VỊ THẾ ĐỐI VỚI GIÁ ĐẤT Ở ĐÔTHỊ TẠI QUẬN CẦU GIẤY THEO TIẾP CẬN VỊ THẾ - CHẤT LƯỢNG

Bùi Ngọc Tú, Lê Phương Thúy, Phạm Lê Tuấn, Trần Quốc Bình - Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN

Tóm tắt:

Định giá đất đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý tài chính về đất đai và nhận được nhiều sự quan tâm của xã hội và các cơ quan quản lý. Hiện nay, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về định giá đất, trong đó có cách tiếp cận sử dụng lý thuyết Vị thế - Chất lượng (VT-CL). Xác định cực vị thế là một bước quan trọng trong phương pháp định giá đất theo tiếp cận VT-CL. Nghiên cứu này đặt mục tiêu nhận dạng các cực vị thế đối với giá đất ở đô thị trên địa bàn quận Cầu Giấy. Với bộ dữ liệu gồm 452 mẫu điều tra trong những năm gần đây và 20 yếu tố ảnh hưởng tới giá đất được nghiên cứu, nhóm tác giả đã chỉ ra được 02 cực vị thế đối với giá đất ở đô thị trên địa bàn nghiên cứu là công viên Cầu Giấy và khu đô thị mới Trung Hòa - Nhân Chính.


GIẢI PHÁP THAM CHIẾU ẢO CỐ ĐỊNH SỬ DỤNG MẠNG LƯỚI THAM CHIẾU HOẠT ĐỘNG LIÊN TỤC CORS CỦA VIỆT NAM

Lại Đức Trường, Dương Thành Trung, Phạm Minh Đức, Bùi Ngọc Quyền - Trường Đại học Mỏ - Địa chất.

Tóm tắt:

 Ngày nay công nghệ định vị toàn cầu sử dụng rộng rãi trong công tác trắc địa bản đồ,từ công tác thành lập lưới khống chế cho đến đo chi tiết thành lập bản đồ địa hình, địa chính. Phương pháp đo tương đối động thời gian thực được áp dụng một cách phổ biến trong việc thu thập dữ liệu đo chi tiết. Đo RTK sử dụng mạng lưới các trạm tham chiếu thường trực (NRTK) đang được áp dụng với nhiều ưu điểm như đảm bảo tính liên tục, trên quy mô toàn quốc và độ chính xác ổn định cỡ cm. Ưu điểm của công nghệ RTK đã được chứng minh qua các nghiên cứu và thử nghiệm thực tế. Tuy vậy, đo RTK cũng có vấn đề là chỉ đo được trong phạm vi của mạng lưới,những trường hợp ở biên và ngoài vùng sẽ không thực hiện được. Để khắc phục vấn đề này, bài báo này đề xuất giải pháp đo RTK ngoài vùng biên NRTK dựa trên nguyên lý của của phương pháp VRS. Thực nghiệm được tiến hành ở một số khu vực ven biển của Việt Nam với mạng lưới trạm CORS. Kết quả cho thấy rằng phương pháp đề xuất đã khắc phục được tính không phủ trùm của mạng lưới VNGEONET tại các khu vực ven biển và biên giới mà phương pháp RTK thông thường không thể thực hiện được.

                                                                                                                                 

XÂY DỰNG MÔ HÌNH HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI ĐIỆN TỬ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

Trịnh Thị Kiều Trang, Bùi Ngọc Tú, Đoàn Quang Cương - Khoa Địa lý,Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN.

Tóm tắt:

Chính phủ Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý đất đai hiệu quả, bền vững và cải thiện quản trị. Kể từ năm 2008, một số nỗ lực đã được thực hiện nhưng những vướng mắc cơ bản trong lĩnh vực quản lý đất đai vẫn tồn tại, đặc biệt là trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống đăng ký đất đai. Nghiên cứu cải thiện, xây dựng mô hình hệ thống đăng ký đất đai điện tử là một nghiên cứu cần thiết trong bối cảnh Chính phủ Việt Nam đang xây dựng hệ thống thông tin đất đai đa mục đích phù hợp với chiến lược phát triển Chính phủ điện tử trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp 4.0. Nghiên cứu sử dụng các phương pháp điều tra thu thập tài liệu thứ cấp và sơ cấp, phân tích dữ liệu (định tính và định lượng), phương pháp thiết kế có cấu trúc, phương pháp lập trình web để đưa ra mô hình đăng ký đất đai điện tử phù hợp nhất. Kết quả nghiên cứu đã xây dựng được hệ thống đăng ký đất đai trực tuyến mới, góp phần nâng cao hiệu quả hệ thống quản lý đất đai đa mục tiêu cho Từ Sơn, Bắc Ninh và khả năng ứng dụng cho các địa phương khác.